Trần trụi giữa bầy sóiTrần trụi giữa bầy sói - chương 33

Chương 33Tải chương
Truyện tổng hợp > Xuất bản
         Mục lục Chế độ đọc
Kiểu chữ
Kích cỡ chữ
Màu chữ
Màu nền
  Tự cuộn trang   Exit 
3.

Trời đã sáng rõ. Những âm hưởng của chiến tranh đã lay động ban đêm như trước đây chưa có cái gì làm nổi. Đêm đó, Ecfuôc đã mất, do đó mở con đường đi thẳng đến Vaima, quân Mỹ đang tiến lên chuẩn bị đánh một đòn quyết định.

Tiếng rì rầm liên tiếp mỗi giờ lại càng to hơn. Tất cả vùng quê chung quanh trại đã trở thành bãi chiến trường.

Nhưng tất cả 21.000 tù nhân còn lại không biết gì về vụ thảm sát ghê rợn đã diễn ra trong boong-ke cái đêm náo động ấy; họ không biết rằng tên Kluttich nguy hiểm là tên chạy trốn đầu tiên hay là những bọn sĩ quan SS khác đang ráo riết chuẩn bị chạy trốn trong khi xe cộ của chúng đang chờ đợi sẵn. Lúc này bọn phát-xít không chạy trốn thì chẳng còn bao giờ chạy được nữa, nếu chúng không muốn bị quân Mỹ tóm được.

Nhưng chúng vẫn còn đó. Bọn lính gác được tăng cường vẫn còn đứng trên các tháp canh. Trong ánh sáng ban mai rạng dần, những bộ mặt đen của chúng càng thấy rõ hơn lúc nào hết, chúng vẫn đứng không động đậy như đe dọa, những cổ áo ngoài to bản lật lên che bụi mưa ẩm ướt.

Một mệnh lệnh ban xuống, một bước đến bên súng liên thanh, ba-dô-ka với súng phun lửa - và mười phút tập trung hỏa lực sẽ đủ để dập tắt tất cả mọi sự sống bên trong những hàng rào dây thép gai.

Kịp thời ngăn chặn cái thảm họa ấy bằng khởi nghĩa vũ trang, đó là quyết định cuối cùng của ILK vào lúc mờ sáng. Từ lúc này trở đi những mệnh lệnh duy nhất có giá trị là sẽ do ủy viên quân sự.

Theo lệnh của anh, các nhóm ngồi đợi trong khối chờ lệnh phát ra; những chỗ giấu vũ khí một lần nữa lại do đội tuần tra của trại chiếm lĩnh. Nấp hết sức kín để bọn lính gác trên tháp canh chung quanh khỏi trông thấy, những người khác trong đội tuần tra quan sát kỹ khắp khoảng thung lũng ở sườn phía bắc dưới trại. Họ có trang bị cả ống nhòm.

Xa xa tiếng uỳnh oàng vẫn liên tiếp không ngừng. Thỉnh thoảng những tiếng nổ vang lên gần dường như những viên đạn đại bác nổ chỉ cách hàng rào dây thép gai vài trăm bước. Tình trạng rối loạn từ lâu đã kéo anh em tù nhân ra khỏi các nhà khối. Họ đứng trên đường, nghi nghi hoặc hoặc nhìn lên các tháp canh và nhìn ra cổng. Bỗng mọi người xôn xao lên. Trên nền trời sáng rõ, một đoàn máy bay khu trục oanh tạc Mỹ vù vù bay qua trại. Các tù nhân reo lên.

- Họ đến rồi, họ đến rồi!

Nhưng những máy bay ấy khuất xa dần. Bôkhâu cũng đã nhảy ra ngoài cùng với mấy đồng chí nhìn theo những máy bay đi xa. Pribula đứng bên cạnh anh, mím môi lại, hai tay đút vào túi.

- Tại sao anh cứ chờ cho đến phút cuối cùng? - Anh buồn bã hỏi.

Bôkhâu không đáp; óc anh đã căng thẳng đến muốn vỡ ra. Những tiếng nổ tiếp theo nhau dồn dập hơn tiếng súng liên thanh lẹt đẹt khi xa khi gần.

Đến chín giờ, tên Xvailinh vào trại. Muylơ và Brenđen trong đội tuần tra được chỉ định khi có lệnh sẽ đi lấy những khẩu súng Pipich đã giấu, do đó họ ở quanh quẩn bên nhà đồ đạc và trông thấy tên Xvailinh. Thằng cha muốn làm gì trong nhà đó?

Đến 9 giờ 30 phút, một người quan sát của đội tuần tra miệng còn thở hổn hển vì chạy vội vàng đem đến cho Bôkhâu một tin là đứng trên sườn đồi phía bắc có thể trông thấy chiến xa đi lại trên đỉnh một ngọn đồi xa. Chiến xa nào? Của bọn phát-xít? Hay của quân Mỹ? Đó là những chiến xa đang bỏ chạy hay đang tấn công? Không thể nói trước. Không thể làm gì được hơn là chờ đợi.

Tên Xvailinh chờ tên Kluttich quay lại nhưng không thấy. Đến sáng tên ngốc ấy không còn ngờ gì nữa, mụ vợ hắn đã bỏ hắn đi theo tên đại úy. Trong khu nhà bọn SS diễn ra một cách hỗn độn như địa ngục. Bọn hạ sĩ, vợ, con gắt gỏng, kêu la, xúm đông giữa những chiếc xe đã chật ních. Tên Xvailinh đứng lại một mình trong phòng khách của hắn nghĩ mưu kế. Bây giờ hắn phải làm thế nào tìm một lối thoát an toàn cho bản thân hắn. Hắn lưỡng lự nhìn quanh để cho nỗi cay đắng của hắn buột ra một câu chửi:

- Lũ chuột khốn kiếp!

Rồi với một cử chỉ giận dữ hắn xua nỗi điên rồ của hắn đi - chúng nó không hại được hắn đâu; hắn chợt nghĩ đến một cái gì, và ý nghi đó xui hắn đến nhà đồ đạc. Trong phòng nhân viên, hắn lục lại trong đông giấy tờ lý lịch tù nhân. Ngón tay run run, hắn tìm kiếm mất đến nửa giờ đám giấy tờ tài liệu mà hắn đã chất cả lên bàn.

Fơxtê vẫn ở nguyên một chỗ trong xà lim. Anh không dám rời khỏi chỗ đó. Không còn có lối thoát cho anh ta nữa, và không ai cứu anh cả. Trong lòng hết sức buồn nản, anh phải thừa nhận rằng những năm sống như một bóng ma trong boong-ke đã không làm cho anh rắn chắc thêm chút nào, và anh không thể là một chiến sĩ được. Nhưng anh còn một điều thỏa mãn; anh vẫn là một người tốt bụng, và với một niềm vui khiêm tốn, anh nghĩ đến những điều tốt anh đã làm đối với Hơfen và Krôpinxki, những người sắp cùng chết với anh. Trong cái chết của mình, anh sẽ trở thành một người trong đội quân tù lớn không tên tuổi, không số hiệu, một ngày kia cây cối mọc trên mảnh đất có anh ta sẽ nở ra một thế giới đẹp hơn. Có lẽ đó là ý nghĩa anh ta đang tìm. Khí cánh cổng trại bị nổ tung lên, miếng đất ấy có lẽ đã gọi anh ta đi rồi.

Một giờ sau khi những may bay khu trục bay qua trại, một chiếc máy bay xuất hiện mà các tù nhân chưa bao giờ thấy. Bay chậm và rất thấp, chiếc máy bay lượn đi lượn lại. Bọn lính gác trên tháp canh nhìn theo chiếc máy bay lo lắng rối rít gọi nhau. Tù nhân đứng giữa các khối nhìn cái hiện tượng kỳ lạ ấy. Chiếc máy bay Mỹ ấy đang dò mục tiêu cho pháo binh. Nó gây ra một tình trạng huyên náo không những trong tù nhân mà cả trong bọn SS nữa. Bọn SS cưỡi mô tô chạy chung quanh hàng rào dây thép gai, hét mệnh lệnh cho bọn lính gác trên tháp canh, những mệnh lệnh cuối cùng của tên Camlốt đưa ra.

Tên Xvailinh đã tìm thấy cái hắn đang tìm. Nhưng hắn không muốn chỉ ngụy trang mình bằng giấy tờ giả. Hắn cũng đã lôi ra bộ quần áo vằn trong đống quần áo cũ của tù nhân, thay vào bộ quân phục của hắn.

Bỗng hắn giật mình kinh hãi. Có một người đứng sau lưng hắn. Tên Vurắc! Tóc tên Xvailinh dựng đứng lên, như hắn trông thấy ma.

- Mày muốn gì ở đây?

Tên Vurắc vừa bò ra khỏi chỗ nấp của hắn, thấy tên thượng sĩ mặc bộ quần áo tù, liền nhăn răng cười:

- À té ra cái trò chơi của mày như thế đấy, đồ chó...

Tên Xvailinh nhảy lùi lại:

- Cút ra ngoài kia!

Tên Vurắc thụt đầu vào, hăm dọa. Tên Xvailinh rút súng ra khỏi túi.

Muyle và Brenđen nghe tiếng súng nổ. Cái gì thế? Họ nhìn nhau.

- Mau vào trong đó!

Họ lao vào trong nhà, chạy vụt lên cầu thang. Căn phòng khóa. Họ đưa chân lên đạp thật mạnh, cánh cửa bật tung vào trong.

- Giơ tay lên!

Khẩu súng còn cầm trong tay, tên Xvailinh ngạc nhiên giơ hai tay lên. Anh em tuần tra nhảy đến bên hắn. Tên Vurắc nằm chết trên sàn.

Trong phòng giấy, tên Svan đang hét với tên Camlốt:

- Ông điên hay sao thế?

Mặt hắn xanh như chàm, đôi lưỡng quyền giần giật.

Tên Camlốt đã ra lệnh nổ súng vào các nhà khối mươi lăm phút trước khi quân lính của hắn rút đi.

- Rút mệnh lệnh ngay. Mày làm tất cả chúng tao bị treo cổ lên bây giờ!

Tên Camlốt chửi hung tợn:

- Cho chúng mày chết hết đi, dù sao chúng tao cũng vô dụng cả rồi.

- Đồ lợn chết tiệt! - Tên Vaixangcơ quắc lên.

Tên Camlốt tống cho hắn một quả vào bụng làm hắn loạng choạng lùi lại.

- Liệu cái xác mày, - tên Camlốt kéo sập mũ xuống một bên mắt. - Tao đi khỏi chỗ này đây.

Tên Svan rơi phịch xuống một chiếc ghế bành, như chết. Tiếng động cơ xe của tên Camlốt rú lên ở bên ngoài. Ba bốn quả đại bác nổ gần ngay đó. Tên Svan chồm lên. Hoảng hốt, hắn nhìn ra chỗ tên Vaixangcơ.

- Thế nào bây giờ? Bây giờ thế nào?

Tên Vaixangcơ lắc đầu tuyệt vọng. Tên Svan nhảy đến hòm giấy, mở ngăn kéo. nhét những giấy tờ tài liệu vào túi áo quàng áo ngoài lên vai và chụp cái mũ lên đầu.

- Đi, đi thôi - Hắn hổn hển.

Từ trong cửa sổ, tên Rainơbốt trông thấy xe tên chỉ huy trưởng vù đi.

- Svan chạy rồi! - hắn bảo tên Mandrin lúc đó đang cùng ngồi với hắn trong phòng.

Fơxtê đứng run rẩy trong xà lim, anh nghe tiếng chân của tên Mandrin nện mạnh trong hành làng. Bỗng then cửa xà lim bị kéo ra.

- Đi ra!

Fơxtê thấy rõ vẻ kích động lạnh lùng trên bộ mặt xám xịt của tên Mandrin. Ngoan ngoãn, con người không kháng cự ấy luồn ra khối xà lim. Những người chết hồi đêm vẫn nằm trên hành lang. Tên Mandrin đưa nắm tay đẩy Fơxtê vào trong phòng hắn và chỉ vào một chiếc hòm:

- Xếp đồ của tao lại!

Trái tim phập phồng của Fơxtê bị nỗi kinh sợ đè bẹp xuống. Anh ta ngoan ngoãn bắt đầu mở các ngăn, các ô kéo.

Muylơ và Brenđen bắt tên Xvailinh đứng vào một góc. Bây giờ họ đẩy cái bàn sang một bên, và lật tấm thảm lên. Trong khi Brenđen đứng giữ tên Xvailinh bằng khẩu súng anh đã cướp được của hắn thì Muylơ lấy rìu lậy sàn lên. Khi những vũ khí hiện ra, mắt tên Xvailinh tròn xoe kinh ngạc.

- Chuyện bất ngờ, hả? - Brenđen cười khinh bỉ, tự hào.

Hàm dưới của tên Xvailinh run cầm cập:

- Tôi... tôi không biết như vậy...

- Không, chúng tao không nói với mày. - Brenđen nhạo hắn ta, và Muylơ nhấc nhấc những khẩu súng trong tay, ngay dưới mũi tên Xvailinh.

- Nhưng đằng sau lưng một tên SS bao giờ cũng là chỗ giấu kín nhất... Anh bỏ súng vào tủ.

- Chúng mình đã lấy súng ra sớm quá, chúng mình chưa có lệnh, làm thế nào bây giờ?

Brenđen nhún vai:

- Thì chờ đến khi có lệnh.

- Thế chúng mình làm gì với hắn đây?

- Hắn cũng có thể đợi, hắn là tên tù binh đầu tiên của ta.

Đầu gối tên Xvailinh khuỵu xuống. Brenđen nắm lấy hắn kéo lên dựng vào tường:

- Đứng thẳng lên, thằng khốn.

Các tù nhân đứng trong cửa sổ dãy nhà khối đầu tiên nhìn ra cổng. Họ quan sát những hoạt động vội vã và thấy bọn hạ sĩ kéo những hòm xiểng ra khỏi tòa nhà ngoài cổng chất lên xe cam-nhông. Họ thấy tên Rainơbốt chạy lui chạy tới, chỉ huy đám hỗn độn ấy. Tên Mandrin ra khỏi boong-ke vứt những gói đồ lên xe.

- Chúng nó cuốn gói rồi - các tù nhân phấn chấn nói khẽ với nhau.

Một cuộc đấu tranh tuyệt vọng đang diễn ra trong người Fơxtê. Việc anh ta đang làm đấy là việc cuối vùng anh ta phải thi hành. Tên Mandrin đang chuẩn bị chuồn. Fơxtê cố bới óc để tìm ra một cơ hội nào đó để thoát. Cơ hội ấy đâu, ở đâu? Tên Mandrin vừa bỏ ra một lát thì Fơxtê giả làm như hối hả, tìm một con đường chạy. Anh ta có thể nấp vào một xà lim nào đó, trốn ở một chỗ nào trong boong-ke, hay chạy đi. Bỗng anh thấy cái chìa khóa bên ngoài cửa phòng. Một nỗi ghê sợ như một tiếng kêu bị nghẹt chạy qua người Fơxtê. Đây có phải là lối thoát được không?

Tên Mandrin vội vã ra với hai tên hạ sĩ. Chúng đem hòm ra xe.

Vài giây để định đoạt cái quyết tâm tuyệt vọng của Fơxtê. Nhẩy một bước, anh ta đã đến cửa. Anh ta rút chìa khóa ra, chạy vứt vào trong phòng và khóa trái lại. Khắp người run bắn lên, anh ta nép mình vào tường ở bên cửa, máu trong người chạy dồn dập. Trong lúc kinh khủng ấy, có một cái gì xảy đến! Một tiếng động nặng nề vang lên bất thình lình, ì ì kéo dài, vút lên như tiếng kèn ngày phán xử cuối cùng của Chúa. Đó là tiếng còi báo động có địch, một hiệu lệnh cho bọn SS khi quân địch đã đến gần. Tiếng ghê rợn của nó xuyên vào mọi người. Trong các khối, nó làm cho hơi thở các tù nhân ngừng lại ở cổ họng. Bôkhâu và các đồng chí của anh chạy vụt ra khỏi nhà khối, đứng bên ngoài nghe tiếng còi ì ì rú dội lên người họ. Trong khu bọn SS, tiếng kèn cuộn chúng vào trong một cơn lốc. Nó xua các đại đội SS ra khỏi các căn nhà trại, và chúng chạy cả đi trong trật tự hành quân rối loạn thảm hại. Bọn hạ sĩ cuống quýt chạy biến. Chiếc xe cam-nhông đã chất đồ ở cổng quay vội bánh xe, gầm lên chạy vào giữa đám hỗn loạn huyên náo trên đường. Tên Rainơbốt hò hét. Tên Mandrin nhảy vội vàng vào boong-ke, gào thét, lay cánh cửa đã khóa, hắn đá rầm rầm vào cửa. Tên Rainơbốt chạy vào:

- Mau đi, mau đi! - Hắn rống lên.

Không có thì giờ đợi tên Mandrin đang điên cuồng, hắn lại chạy ra, mở máy môtô và quay lại hét một lần nữa.

- Mandrin!

Rồi hắn nhảy lên yên ngồi, tiếng động cơ vừa rú thì tên Mandrin chạy bổ ra, nhảy vào hòm xe bên môtô và chiếc xe chạy lồng lên biến mất.

Trong góc căn phòng đã khóa lại, Fơxtê quỳ xuống đất. Sức lực cuối cùng trong người anh ta tràn ra theo những tiếng khóc không ngăn nổi được. Chính những giọt nước mắt ấy đã đem lại cho anh ta một giây phút êm dịu nhất trong đời - mặc dù anh ta không biết.

Với những cảm giác hết sức tập trung, Hơfen và Krôpinxki đứng đằng sau cánh cửa xà lim sẵn sàng nhảy ra, như họ đã quyết tâm làm trong tình trạng tuyệt vọng. Họ nghe những tiếng ồn ào vội vã và tiếng kèn ghê rợn. Họ nghe tiếng hét của tên Rainơbốt và tiếng gào của tên Mandrin, họ nghe những tiếng giày đá ầm ầm vào cửa, và rồi bất thình lình những tiếng ồn ào kêu hét bên ngoài hành lang như bị nuốt đi đâu mất. Krôpinxki đứng trong góc bên cửa, hai bàn tay anh như hai cái móc sắt mở sẵn, giơ sự đe dọa của nó vào khoảng yên lặng không sao giải thích được. Cả hai người bị xử tội ấy không ai dám thở, lại càng không dám nghĩ đến cái hy vọng nhỏ xíu trong trái tim họ đang hồi hộp trong cảnh yên lặng như những sợi râu trên đầu loài côn trùng.

Trong khi tiếng còi còn đang kêu thét ở giữa tiếng ầm của chiến trận diễn ra khắp vùng thôn quê xung quanh, những người lãnh đạo các nhóm đã chạy xô đến khối 17. Lối đi đầy những tù nhân hoảng hốt. Trong tất cả mọi người, trong Bôkhâu và trong những ủy viên ILK lúc đó đã chạy đến khối 17, sự quyết định đang bùng lên.

Thời cơ đã đến!

Quang cảnh lúc đó giống như giao thừa: mọi người chỉ như nghe thấy có tiếng chuông đồng vẳng lên.

- Báo động giai đoạn ba! Phân phát vũ khí! Các nhóm về vị trí. Bắt đầu ngay cuộc khởi nghĩa! - Bôkhâu ra lệnh.

Pribula vung hai nắm tay lên đầu. Anh không nói một tiếng, mặc dầu toàn thân anh đang thét lên tiếng thét giải phóng. Anh chạy lên cùng với các anh em lãnh đạo nhóm.

Bỗng những lệnh vang lên ở khắp các khối.

- Các nhóm xếp hàng!

Trước khi các tù nhân kinh ngạc nhận được ra chuyện gì, các đội đã đứng thành hàng răm rắp ở trước các khối. Không để ý đến sự ngạc nhiên của mọi người trước việc họ xuất hiện, các nhóm đi mau vào một số nhà khối, đi xuống y xá, ra những chỗ có ống dẫn hơi và ống tháo phân. Những nhân viên đội tuần tra được chỉ định ra những địa điểm ấy đều đã đứng chờ sẵn. Những sàn gỗ bị lật lên, những bức tường bị thúc đổ, cuốc xẻng mở những cống rãnh, ở mọi nơi vũ khí xuất hiện. Vũ khí, vũ khí!

Pribula và những người của anh trong nhóm Ba Lan đập vỡ những chậu hoa ở cửa sổ y xá, bóc những mảnh vải thấm dầu bọc những khẩu súng các-bin.

Một nhóm mang khẩu liên thanh chạy vội đến phòng nhân viên. Khẩu súng đặt ở phòng giấy Krêmơ, đối diện với chính nhà ở cổng, Bôkhâu phụ trách đội Commando.

Chỉ trong mấy phút vũ khí đã được phân phối và các nhóm đã chiếm lĩnh những vị trí của họ. Họ không ngập ngừng một phút nào không cần thiết, những phát súng đầu tiên đã nổ trên sườn phía bắc ngọn đồi và những viên đạn đã rít lên trên đầu bọn lính gác khiếp sợ.

Bão tố đã bùng lên!

Các nhóm trên sườn đồi phía bắc chạy qua quãng đất trống sang khu vực không mắc dây điện. Những đơn vị người Đức và người Nam Tư bảo vệ hai bên sườn bằng những loạt súng nhằm vào những tháp canh ở chung quanh. Các nhóm Ba Lan do Pribula lãnh đạo đã quẳng các tấm ván và cánh cửa lót trên các chướng ngại vật. Cùng một lúc, dây thép bị cắt đứt ở năm sáu chỗ, và với tiếng hét gầm lên reo mừng thắng lợi, Pribula và những người của anh bò qua các lỗ đã mở. Trên các tháp canh ở xa, lửa súng liên thanh chĩa thẳng vào họ, những bọn lính canh đang lồng lộn ném lựu đạn ra bốn phía ấy, đã bị những nhóm Đức và Nam Tư dập tắt ngay. Những chai đựng chất cháy ném lên tháp canh, nổ rất to. Những ngọn lửa cháy lan đi, đuổi bọn lính gác phải chạy xuống. Pribula và một đội nữa đã xông được lên một tháp canh; trong một cuộc vật lộn giáp lá cà, phút chốc bọn lính gác bị hạ ngay, và Pribula quay luôn khẩu liên thanh nhả những loạt đạn vô cùng phấn khởi sang những tháp canh khác còn bị chiếm đóng.

Đồng thời với việc khởi sự trên sườn đồi phía bắc, cuộc tấn công ở ngoài cổng cũng bắt đầu.

Riômăng sau khi ngắm cẩn thận đã chĩa khẩu liên thanh từ phía sau khung kính cửa sổ không ai trông thấy được, nhả từng hồi đạn liên tiếp sang dãy hành lang của tháp canh chính. Ô kính bị vỡ nát tung tóe những mảnh kính bắn ra chung quanh người anh. Một tên lính canh bị trúng đạn. Hắn buông rơi súng trong không và ngã gục. Những tên khác bị bắn đột ngột, chúi người xuống.

Mấy giây sau, những người trên dãy nhà khối đầu lao ra khỏi chỗ nấp của họ. Được cổ vũ bởi những tiếng hô chiến đấu bằng đủ thứ tiếng, người Đức, người Pháp, người Tiệp, người Ha Lan qua các sân.

Khẩu liên thanh của Riômăng khạc ra những tràng đạn hung dữ vào những tháp canh hai bên cổng, được sự bảo vệ ở bên sườn này, các toán đặc biệt của đội tuần tra ra tới cổng sắt đúc, dùng xà beng thúc tung cánh cổng ra.

- Ngừng bắn! - Bôkhâu hét sang Riômăng, lập tức khẩu liên thanh kìm nỗi căm hờn của nó lại. Ngoài cổng, hầu như cùng một lúc đó, đơn vị đặc biệt đã chạy vội lên bậc cầu thang tháp chính, và hàng trăm người của các nhóm khác kéo ùa qua cánh cổng đã mở, ngoắt sang hai bên những hàng dây thép gai. Lựu đạn ném vào những người đang xông lên, súng máy nổ ran, nhưng những người khởi nghĩa vẫn kéo lên tháp canh như những đàn ong. Những tiếng hô chiến đấu và những tiếng nổ, tiếng súng khắp chung quanh hàng rào lẫn lộn với tiếng ầm ầm của chiến trận đang diễn ra ngoài vùng quê. Đằng sau ngọn đồi, những cột khói nâu vàng nhạt bốc lên trời. Chiếc máy bay quan sát lại xuất hiện; lúc này nó bay lượn vòng chậm chạp gần như ngay trên trại. Những máy bay bay thấp hẳn xuống mặt đất. Tiếng lạch tạch của súng máy trên máy bay có thể nghe thấy rất rõ; chúng đang bắn vào những chiếc xe của bọn phát-xít chạy trốn.

Bị bọn cầm đầu bỏ rơi và bị hoang mang về cuộc tấn công bất ngờ, bọn lính gác không làm sao đối phó lại. Cơn phẫn nộ của các tù nhân chồng chất bao nhiêu năm nay bùng lên như một trái bom. Bị dồn vào chỗ một bên là mặt trận lúc này đã thấy rõ với một bên hàng ngàn tù nhân thịnh nộ mà sức chiến đấu mỗi lúc một lớn lên mỗi khi cướp thêm một khẩu các-bin, mỗi khi một khẩu liên thanh bị gục xuống, bọn lính gác không còn tinh thần nào chống lại với cơn bão táp.

Những tên không kịp chạy đã bị bắt làm tù binh, những tên không chịu hàng bị giết ngay. Hết tháp canh này đến tháp canh khác bị các nhóm chiến đấu tấn công và chiếm lĩnh ngay lập tức.

Bỗng Krêmơ biến mất. Kơn đang bận với những anh em bị thương đem về trạm hét những anh em hộ lý đang chạy ra chạy vào:

- Các anh ngốc thế, sao không canh giữ! Hai phát đạn vào phổi! Các anh muốn anh ấy chảy máu đến chết ư? Chạy đi! Tìm anh ấy đi! Đem anh ấy về đây!

Làm sao Krêmơ không có ai giúp đỡ lại có thề luồn ra được?

Mặc độc có chiếc quần ngắn và chiếc áo lót, với một cái áo ngoài vắt lên vai, anh đã lẻn ra ngoài giữa lúc không ai để ý đến mình. Anh không đi được xa. Thở hổn hển, anh lảo đảo đi đến khối 38. Anh ngồi xuống một chiếc ghế dài, rên rỉ. Những người còn lại trong khối và không thuộc những nhóm chiến đấu đến vây quanh anh.

- Anh ở đâu đến thế?

Krêmơ thở mệt nhọc, mắt anh long lanh những tia cháy rực.

- Trời ơi, Vante, anh phải về y xá ngay đi.

Krêmơ tức tối đẩy Runki ra, khi Runki định đỡ anh đứng dậy.

- Lui ra!

Nhưng Runki không lui.

- Anh đang bị thương, rất nguy hiểm.

Những người khác muốn vào giữ giúp anh.

- Đi đi! - Krêmơ càu nhàu. - Tôi ở đây thôi!

Anh nhìn các tù nhân nhưng không thấy nỗi lo sợ cho anh hiện trên gương mặt họ, anh chăm chú nghe những tiếng nổ, tiếng ầm ầm bên ngoài.

- Mẹ kiếp! Quỵ vào giữa lúc kết thúc...

- Vante, anh sẽ khỏe nếu anh cần thận giữ mình.

Runki nhẹ nhàng đặt bàn tay lên vai anh.

- Đứa bé đâu, đứa bé đâu? Tôi đã đem nó đến cho anh. Anh để nó đâu rồi?

- Ồ, nó ở đây chứ đâu, Vante, đây này.

Mấy người chạy vào nhà ngủ. Họ đem đứa bé đến đặt nó lên đầu gối anh.

Nét mặt của Krêmơ dịu lại. Anh cười cái cười ấm áp trìu mến và vỗ vỗ vào đầu nó.

- Cái con bọ dừa này...

Bỗng Krêmơ buồn rượi và nói như van nài:

- Để tôi ở đây, các cậu ạ. Để tôi ở đây với các cậu. Tôi thấy khỏe lắm.

Họ đem đến một cái nệm cỏ và làm cho anh một chỗ dựa giữa cái bàn và cái ghế. Krêmơ ngả người ra, cảm động, cười với Runki đang vỗ về anh:

- Đó, Ôttô, anh bạn của tôi ơi...

Runki cười mỉm vỗ vào người anh.

Bao giờ cũng vậy, khi con người có quá nhiều điều phải nói với nhau thì họ không tìm ra lời. Nhưng điều không thể biểu lộ được đang diễn ra bên ngoài kia đã biểu lộ trong sự thành thật mộc mạc của Krêmơ và trong cái dịu dàng vụng về của Runki; và tiếng ồn ào, tiếng súng chung quanh trại đã đưa vào đó ý nghĩa của nó.

Krêmơ nhắm mắt lại.

Khi Riômăng nhả loạt đạn thứ nhất, khi tiếng kêu nhân lên nghìn lần vang lên và khối người chạy qua các sân thì Fơxtê đang nằm lịm trên mặt đất, vì kiệt sức, bỗng chồm dậy. Qua cửa sổ boong-ke, anh nhìn thấy cơn bão táp và tiếng hét mà anh thốt ra trước sự việc xảy đến không tin được ấy, gần như xé toang lồng ngực. Khi cánh cổng sắt bên ngoài sắp bị bật ra, anh ta lao ra khỏi buồng, dẫm lên cả những xác chết, chạy đến xà lim số 5.

Hơfen và Krôpinxki đang điên dại đấm vào cửa gào thét. Fơxtê nhấc cái then ra, nhưng xà lim vẫn bị khóa.

Bỗng Bôkhâu, Riômăng, Kôđixéc và Van Đalen hiện ra. Họ dừng phắt lại khi thấy những xác chết nằm ngổn ngang. Bôkhâu hét vào trong bóng tối mờ mờ của hành lang:

- Hơfen, Krôpinxki, các anh ở đâu?

- Đây, đây!

Fơxtê chạy đến chỗ họ.

- Cửa bị khóa, tôi không có chìa khóa.

Bôkhâu nhảy đến xà lim.

- Tôi đây, Bôkhâu đây, các anh có nghe thấy tôi không?

- Có, có, có! Ối trời ơi! Hécbe! Có, có có, chúng tôi có nghe thấy!

- Đứng xa cửa ra. Tôi bắn vào ổ khóa đấy!

Bôkhâu rút súng.

- Cẩn thận, tôi sắp bắn đây này!

Những phát súng nổ ran. Bôkhâu trút hết cả băng đạn, hợp lực lại với nhau, họ lay lay và kéo cánh cửa ra. Cái ổ khóa bị vỡ lung lay, kêu lẹt rẹt. Cả Hơfen và Krôpinxki đều xô người vào cánh cửa. Cánh cửa mở tung, họ loạng choạng văng ra ngoài. Những người đứng ngoài đỡ họ. Thở hổn hển, Hơfen rũ xuống như một cái giẻ trong tay Bôkhâu.

Hàng trăm tù nhân đã trèo lên các mái nhà, trên các lối đi rầm rập những người nhộn nhịp, ở những chỗ có ngách trông ra được, các tù nhân bị kích động đến điên người nhìn những anh em khởi nghĩa chạy ùa lên xông tới các tháp canh, họ thấy những chiến sĩ xuất hiện trên nóc tháp canh.

- Họ đã chiếm được các tháp canh rồi!

Hàng trăm người chạy lên khoảng đất trống trên sườn đồi phía bắc. Một xưởng máy đang cháy dưới thung lũng gần Hôttenxtết. Những tiếng nổ như sấm liên tiếp theo nhau mỗi lúc một nhanh hơn. Khói trắng khói đen bốc lên trời. Tự trang bị bằng gậy gộc, đá, cành cây, bằng tất cả những gì họ nhặt được trên mặt đất, các tù nhân chạy đến khu vực không mắc dây điện, trèo lên những cái ụ vừa hét vừa lao vào những lỗ trống. Những tên SS đã bị các chiến sĩ bắt được, lại bị họ kéo giằng ra khỏi tay các chiến sĩ, bị đưa về trại qua những lỗ trống ở hàng rào và bị đẩy đi lên trước, giữa những tiếng gào thét như điên dại của đám người trở về khối 17, nơi có dây thép gai bao bọc xung quanh. Các tù nhân vũ trang đều đã đứng gác ở đó, tay cầm những khẩu các-bin đã cướp được. Muylơ và Brenđen đưa tên Xvailinh run lẩy bẩy đến đó làm tên tù binh đầu tiên.

Pribula và nhóm của anh đã lao vào tận trong rừng trên đường đi đến Hốnenxtết.

Trong khi đó, Bôkhâu và các đồng chí đã đem những người được giải thoát vào phòng tên Manđrìn. Boong-ke đầy chật những chiến sĩ. Vài người chạy vội vào trong kéo những xác chết từ hành lang vào nhà tắm của boong-ke. Hơfen và Krôpinxki ngồi trên chiếc võng nhà binh. Fơxtê đã đem đến cho họ một cốc nước. Những con người kiệt sức ấy hăm hở uống cạn cốc nước hồi phục sức khỏe đó.

Một anh liên lạc chạy vào báo cáo cho Bôkhâu biết là tất cả các tháp canh đều đã bị chiếm lĩnh.

Vô cùng sung sướng, Bôkhâu ôm lấy Hơfen và Krôpinxki.

- Tự do. Tự do!

Anh hét vào mặt họ, và cười, vì đến lúc đó, trong người anh không còn chỗ để nghĩ đến gì khác.

Cùng với các đồng chí ILK, anh chạy sang phía bên kia chiếc nhà cổng, chạy vào phòng giấy tên Rainơbốt.

Trên tháp canh chính, một chiến sĩ xé giật lá cờ chữ thập ngoặc[108] xuống và kéo lên một miếng vải trắng mà anh mang sẵn từ đâu đến.

Bôkhâu đã nhanh chóng tìm ra cách làm thế nào cho cái đài chạy được. Anh mở máy phóng thanh, tiếng kêu của anh vang lên trong trại, vào các nhà khối:

- Các đồng chí! Chúng ta đã thắng lợi! Bọn phát-xít đã chạy trốn! Chúng ta đã tự do! Các bạn có nghe rõ tôi không? Chúng ta đã tự do!

Bôkhâu nấc lên và áp trán vào máy phóng thanh, nỗi vui tràn ngập của anh tan ra thành những giọt nước mắt mà anh không thể kìm được.

Nhưng trong các nhà khối, mọi người ở lại đã đứng vụt cả dậy. Tiếng kêu rực lên như ngọn lửa, tạo ra một đám cháy lớn của hang ngàn giọng người kêu thét! Nó như vang mãi không hết, rầm rầm, nhắc đi nhắc lại mãi:

Tự do! Tự do!

Người người cười, khóc, nhảy múa! Họ nhảy cả lên bàn, vung tay, người nọ hét vào mặt người kia, hét, hét như điên như cuồng. Không thể ngăn lại được nữa. Họ chạy ùa ra khỏi các nhà khối. Ai cũng chạy ra hết, như một ngọn nước thủy triều dâng lên, đám người đông đảo tràn ngập trên sân kiểm soát.

Tất cả thành một tiếng kêu, một cơn lũ ra cổng!

Không phải bỏ chạy một cách vô ý thức, mà là bị lôi cuốn bởi tình trạng say sưa khi cuối cùng đã được thoát ra, họ đi, đi qua cái cổng kinh khủng, đáng căm ghét, miệng hò hét phấn khởi điên cuồng, lao vào những cánh tay của tự do đã mở rộng.

Những người ở trong nhà khối với Krêmơ cũng bị cuốn theo ra ngoài với nỗi hân hoan vô hạn. Tự do! Hạnh phúc của họ to lớn quá đến nỗi họ bỗng quên anh và chạy cả ra. Krêmơ vừa cười vừa chửi:

- Họ đã quên cả chúng mình, đồ quỷ, mẹ kiếp, quên cả việc đem chúng mình đi theo nữa!

Anh đã gào quá dữ tợn với đứa bé đến nỗi nó cùng kêu lên sợ hãi và khóc.

- Gào lên, phải, gào lên đi! Nào, gào lên với tất cả mọi người đi! Họ đang gào lên tất cả đấy! Có nghe thấy không?

Quên rằng mình đang yếu, anh bế đứa bé đang khóc trên cánh tay, loạng choạng bước ra ngoài.

Ra đến đường, mấy tù nhân đang vui sướng chạy kịp đến chỗ anh. Họ muốn giữ cho anh đi và đỡ lấy cho anh cái gánh nặng đang kêu khóc trên tay.

- Tránh ra! - Anh gào lên không cho ai mó vào, và anh vừa thở vừa sung sướng đi trên con đường dẫn đến sân kiểm soát.

Anh thấy họ đã đứng tất cả trên đỉnh đồi, giữa đám họ là Bôkhâu đang ở trong tình trạng không có cách nào ngăn nổi cơn lũ mà chính anh đã gây ra.

Và Krêmơ lại cùng thấy - tim anh gần như dừng lại vì một niềm vui điên cuồng.

- Anđrê! - Anh hét lên. Anđrê, Anđrê! Marian!

Tiếng kêu của anh không át được đám ồn ào này nhưng họ đã trông thấy anh.

- Vante!

Hơfen sung sướng khập khiễng đi đến chỗ anh, dây thòng lọng còn lủng lẳng trên cổ.

- Bế lấy đứa bé, tôi bế nặng quá rồi.

Những người khác cùng đã đến chỗ Krêmơ. Riômăng và Van Đalen đỡ con người sắp khuỵu xuống. Hơfen giật lấy đúa bé trong tay anh. Đứa bé lại càng kinh hãi thét to hơn nữa khi con người râu ria mọc tua tủa ấy áp nó vào lòng. Hơfen lảo đảo đi lên trước đường như đầu gối anh sắp quỵ xuống. Krôpinxki đỡ lấy đứa bé. Cười, hét, lắp bắp với một giọng nói đặc biệt lẫn lộn cả tiếng Đức với tiếng Ba Lan, anh giơ ra cho mọi người xem cái gói yêu quý.

Bỗng Krôpinxki chạy vụt đi, giơ đứa bé ra đằng trước, anh chạy về phía cổng, vào giữa thác người cuồn cuộn.

- Marian! - Hơfen gọi theo. - Cậu chạy đi đâu đây?

Nhưng cơn lốc đã cuốn anh vào trong.

Krôpinxki nâng cao cái bọc đang kêu khóc lên trên đầu để nó khỏi bị bẹp trong cái thác người không thể ngăn lại được.

Đứa bé dập dờn như một cái vỏ lạc trên những đầu người nhấp nhô.

Nó quay tít trong dòng lũ chảy băng qua những khe cổng hẹp. Dòng người cuốn nó trôi theo trên những ngọn sóng đã được giải phóng, chẳng còn bị cái gì ngăn cản lại.
         Mục lục Chế độ đọc
Chia sẻ truyện Trần trụi giữa bầy sói - chương 33 tới bạn bè để mọi người cùng đọc nhé !
Bình luận truyện Trần trụi giữa bầy sói
loadingĐang cập nhật phản hồi
Đăng nhập để bình luận !
Các bạn đang đọc truyện Trần trụi giữa bầy sói - chương 33. Chúc các bạn đọc truyện vui vẻ !
lên đầu trang truyện
0.216345071793 sec