Thám Tử Rời Sân KhấuThám Tử Rời Sân Khấu - chương 5

Chương 5Tải chương
Truyện tổng hợp 2 > Truyện phương tây
         Mục lục Chế độ đọc
Kiểu chữ
Kích cỡ chữ
Màu chữ
Màu nền
  Tự cuộn trang   Exit 
Theo Tôi, Không Có Gì Buồn Hơn Là Sự Suy Thoái Của Tuổi Già. (13)

Hai ngày sau, cuộc điều trần tiến hành.

Trước hết, bác sĩ pháp y báo cáo. Bà Barbara Franklin chết do đầu độc bằng chất physostigmine - có tên khác là ésérie. Nhưng các mẫu phân tích còn phát hiện thấy những chất ancalôít khác của giống đậu calabar. Bà Fraklin đã uống phải thuốc độc tối hôm trước, khoảng giữa bảy giờ tối đến mười hai giờ đêm.

Nhân chứng thứ hai là đích thân bác sĩ Franklin, ông báo cáo rất rành rẽ, chính xác. Sau cái chết, ông đã kiểm tra kỹ lưỡng các dung dịch cất giữ trong phòng thí nghiệm, và sửng sốt nhận thấy một lọ đáng lẽ chứa đầy dung dịch ancalôít của cây đậu calabar đã bị thay thế bằng nước lã. Ông không thể nói rõ sự đánh tráo đó đã xảy ra vào lúc nào, vì đã nhiều ngày nay không động đến nó.

Vấn đề đặt ra là: ai có thể vào phòng thí nghiệm? Bác sĩ Franklin khẳng định phòng bao giờ cũng khóa, và ông thường giữ chìa khóa trong túi. Chỉ có trợ lý Judith Hastings, có chiếc thứ hai, bất cứ ai muốn vào đều phải mượn một trong hai chìa đó. Vợ ông có lúc mượn chìa khóa vào phòng để lấy một vật gì bỏ quên trong đó. Bác sĩ cũng cho biết bà không hề mang dung dịch physostigmine về phòng.

Trả lời câu hỏi của cán bộ điều tra, bác sĩ cho biết vợ ông không có bệnh gì trong nội tạng, song ít lâu nay mắc chứng trầm uất, gây nên tính khí thất thường. Tuy vậy mấy hôm nay bà ấy lại vui vẻ, có dấu hiệu sức khỏe khá lên. Hai vợ chồng ông sống hòa thuận, từ lâu không mâu thuẫn gì. Trước hôm chết, bà Franklin còn rất vui.

Ông công nhận thỉnh thoảng bà nói muốn chết, song ông không coi ý định đó là nghiêm túc. Bà không phải là người muốn tự tử. Tiếp theo là cô Craven, duyên dáng trong sắc phục y tá. Ý kiến cô cũng rành rẽ, cụ thể. Cô chăm sóc bà Franklin được hơn hai tháng. Bà bị bệnh tinh thần là chính, và nhiều người đã nghe bà hai ba lần nói muốn chết cho xong, vì đời bà không còn ý nghĩa gì, chỉ là gánh nặng cho chồng.

- Theo cô, bà ấy nói thế là thế nào? Cán bộ điều tra hỏi. Giữa hai ông bà có va chạm gì không?

- Không hề. Song bà biết ông vừa mới được mời đi nhận chức vụ khá tốt ở nước ngoài, nhưng ông không đi vì vướng bà.

- Và vì thế bà lại càng thêm trầm uất?

- Vâng.

- Bác sĩ Franklin biết chuyện ấy không?

- Tôi không nghĩ là bà nói với ông chuyện ấy.

- Có bao giờ bà nói rõ ý muốn tự tử?

- Bà thường chỉ nói "muốn chết quách cho xong".

- Có bao giờ bà nói muốn chết bằng cách nào?

- Không. Chỉ nói chung chung vậy thôi.

- Gần đây có xảy ra sự việc gì khiến tinh thần bà thêm khủng hoảng?

- Theo tôi biết thì không. Gần đây bà còn khá hơn là đằng khác.

- Vậy là cô đồng ý với bác sĩ Franklin nói trước hôm chết bà có vẻ vui hơn.

Cô y tá lưỡng lự một lát.

- Theo tôi, bà có hơi... bồn chồn. Cả ngày đi chơi mệt, bà kêu nhức đầu, chóng mặt. Nhưng đúng là buổi tối, bà đỡ hẳn. Tuy nhiên, sự vui vẻ của bà không tự nhiên, như là... cố gượng.

- Cô có trông thấy cái lọ nào đựng thuốc độc?

- Không.

- Tối hôm đó, bà ăn những thứ gì?

- Canh, sườn nấu với khoai và đậu, rồi mứt anh đào. Và uống một ly rượu bourgogne.

- Rượu ở đâu ra?

- Bà có một chai cất trong phòng. Chỗ còn lại đã được các ông phân tích, hình như không có độc tố.

- Có thể bà bỏ thuốc độc vào rượu mà cô không biết?

- Rất dễ, vì không phải lúc nào tôi cũng để mắt. Tôi bận sắp xếp trật tự trong phòng. Bà ấy có cái túi để ngay tầm tay, muốn bỏ gì vào rượu, cà phê hay sữa đều được.

- Lọ thuốc độc dùng xong rồi, không biết bà bỏ đâu?

Cô Craven suy nghĩ vài giây:

- Có thể vứt ra ngoài cửa sổ, hay vứt vào sọt rác. Bà cũng có thể súc sạch rồi để lại vào tủ thuốc trong phòng tắm, ở đó lúc nào cũng có một số lọ không.

- Cô nhìn thấy bà Franklin lần cuối lúc nào?

- Lúc mười giờ rưỡi. Tôi đặt bà lên giường , đưa bà cốc sữa nóng, và bà bảo tôi mang cho bà ống átpirin.

- Lúc đó bà ấy thế nào?

Cô y tá lại nghĩ:

- Như thường lệ. Nhưng không hẳn như thế. Bà có vẻ hứng khởi hơn.

- Vậy là không trầm uất.

- Không. Nhưng một người sắp tự tử có thể ở trong tình trạng kích động, hoặc... hứng khởi.

- Cô có cho là bà thuộc loại người có thể tự tử?

Cô Craven im lặng môt lát, do dự:

- Trời, làm sao tôi khẳng định được. Tuy nhiên, tôi cho là có, vì bà vốn hay mất cân bằng.

Boyd Carrington được mời ra, ông thực sự bàng hoàng, nhưng khai báo rõ ràng. Tối đó, ông chơi bài pích-kê với bà Franklin, thấy bà không có gì là suy yếu tinh thần. Nhưng mấy ngày trước đó, bà có nói đến ý muốn chết. Bà ta là người rất khoan dung, không vụ lợi, rất buồn vì mình ngáng trở sự nghiệp của chồng.

Tiếp theo Boyd carrington là Judith, nhưng nó chả có mấy để khai. Nó không hiểu làm thế nào mà dung dịch physostigmine trong phòng thí nghiệm bị đánh tráo. Tối hôm đó, bà Franklin có vẻ hoàn toàn bình thường. Nó nói chưa bao giờ nghe bà Franklin tỏ ý muốn tự tử.

Người làm chứng cuối cùng là Hercule Poirot. Lời khai chắc nịch của ông gây ấn tượng mạnh. Trước hôm xảy ra tấm thảm kịch, Poirot đã chuyện trò với bà Franklin. Bà rất ủ rũ, tỏ ý muốn chết, rất buồn vì tình trạng sức khỏe, bà có sống cũng chẳng để làm gì. Bà còn nói, có lúc nghĩ rằng nếu ngủ đi rồi vĩnh viễn không dạy nữa thì tuyệt vời.

Nhưng câu Poirot trả lời câu hỏi tiếp theo mới càng gây sửng sốt:

- Sáng ngày 10 tháng 6, ông có ngồi gần cửa phòng thí nghiệm?

- Phải.

- Ôngn đã thấy bà Franklin từ đó đi ra?

- Có, tôi có thấy.

- Bà có cầm gì trong tay?

- Tay phải bà cầm một lọ nhỏ.

- Ông chắc chứ?

- Chắc chắn.

- Nhìn thấy ông, bà có tỏ ý gì không?

- Có vẻ hơi hốt hoảng.

Cán bộ điều tra quay sang các vị hội thẩm.

- Thưa các vị, bây giờ để tùy ý các vị xác định xem bà Franklin chết như thế nào. Báo cáo của pháp y rất rõ ràng về nguyên nhân cái chết, đó là do trúng độ physostigmine. Các vị sẽ phán quyết chất độc là cho bà Franklin tự uống - hoặc vô tình hoặc cố ý hay là do bàn tay người khác. Nhiều nhân chứng đã khai rằng nạn nhân mắc chứng tâm thần, mặc dù nội tạng không sao, nhưng sức khỏe suy sụp. Mặt khác, ông Hercule Poirot mà ta đều biết là người có uy tín, khẳng định có trông thấy bà từ phòng thí nghiệm của chồng đi ra, tay cầm lọ. Từ đó toàn hội thẩm quyền có quyền suy ra là bà Franklin đã lấy thuốc đó rõ ràng nhằm mục đích tự tử. Bà bị ám ảnh vì nỗi đã ngăn trở sự nghiệp của chồng. Người chồng rất tốt và vẫn thương yêu vợ, chưa hề phàn nàngì về sức khỏe của vợ, kể cả việc mình bị vợ gây khó khăn trong sự nghiệp. Ý đó chỉ là nằm trong tưởng tượng của bà Franklin. Những người bị bệnh thần kinh thường hay có những ý nghĩ cố định. Trong trường hợp này, khó thể biết nạn nhân đã uống độc dược như thế nào và lúc nào. Điều kỳ lạ là không tìm ra cái lọ mà ông Poirot đã nhìn thấy trong tay bà Frankin. Song rất có thể như cô Craven nói, bà Franklin đã rửa sạch và xếp nó vào tủ thuốc, nơi bà đã lấy nó trước khi đến phòng thí nghiệm. Và bây giờ, thưa các vị hội thẩm, xin để các vị phán xét.

Sau khi thảo luận ngắn, hội đồng bồi thẩm đã ra phán quyết: Bà Franklin đã tự kết liễu đời mình trong một cơn hoảng loạn nhất thời. Nửa giờ sau, tôi ở trong phòng Poirot. Trông ông có vẻ kiệt sức. Curtiss đã đặt ông lên giường, cho ông uống thuốc.

Tôi sốt ruột chờ đợi anh hầu đi ra, rồi bật lên câu hỏi:

- Poirot, điều ông vừa kể có đúng không? Ông có thật thấy bà Franklin từ phòng thí nghiệm đi ra, tay cầm lọ?

Nụ cười thoáng trên đôi môi nhợt nhạt của nhà thám tử.

- Thì anh cũng trong thấy đó thôi.

- Không.

- Có thể lúc ấy anh không để ý.

- Có thể. Tất nhiên tôi không dám chắc.

- Anh cho là tôi nói dối sao?

- Biết đâu được.

- Hastings, anh không tin tôi nữa sao?

- Tôi không tin ông lại nói bậy, nói dối.

Ông khoát tay:

-Thôi điều gì đã nói là đã nói, cãi cọ vô ích.

- Tôi thật tình không hiểu.

- Anh không hiểu cái gì?

- Lời khai của ông: rằng bà Franklin nói với ông là muốn tự tử.

- Chính tai anh cũng đã từng nghe bà ấy nói vậy, có phải không?

- Đành thế, nhưng đó chỉ là kiểu nói quá của bà. Ông không nêu bật cái ý ấy.

- Có thể là tôi không muốn nêu.

- Ông muốn người ta kết luận là tự tử?

Poirot không trả lời ngay. Sau ông mới thong thả đáp:

- Hastings, anh không hiểu là tình thế nghiêm trọng. Đúng, tôi muốn người ta kết luận là tự tử.

Poirot thong thả gật đầu.

- Vậy ông tin là bà bị ám sát?

- Đúng vậy, bà bị ám sát

- Vậy tại sao ông lại muốn im chuyện, cố tình làm cho người ta đi đến phán quyết chấm dứt điều tra? Có phải ông muốn thế không?

- Phải.

- Vì lý do gì, hở trời?

- Hóa ra anh không nhìn thấy gì ư? Nhưng thôi, không quan trọng, không nói nữa. Song anh có thể tin tôi. Chúng ta đang đứng trước một vụ án mạng. Một án mạng có tính toán trước. Tôi đã bảo là sẽ có án mạng ở đây, mà ta chưa chắc ngăn chặn được, vì hunh thủ quyết tâm ra tay không thương tiếc.

Tôi rùng mình.

- Và bây giờ sẽ đến chuyện gì nữa?

Poirot lại cười:

- Vụ việc đã khép lại rồi, kết luận là tự tử. Nhưng tôi với anh còn ngầm làm việc tiếp, đào sâu như những con trũi. Và sớm muộn ta sẽ tóm được tên X.

- Trong khi chờ đợi, nhỡ lại có ám sát nữa.

- Không chắc. Trừ khi có người nào nhìn thấy, hoặc biết một điều gì. Nhưng nếu vậy, người ấy đã nói ra trong lúc điều tra.

Theo Tôi, Không Có Gì Buồn Hơn Là Sự Suy Thoái Của Tuổi Già. (14)

Ký ức của tôi hơi mơ hồ về thời gian tiếp theo cuộc điều trần về cái chết của bà Franklin. Tất nhiên tôi không quên buổi lễ tang, có rất đông người ở Styles đến dự. Ở cổng nghĩa trang, một bà già mắt kem nhèm đến gặp tôi, chẳng rào trước đón sau gì, nói:

- Tôi nhớ ra ông rồi.

- Vâng... có thể, tôi lúng túng.

Bà nói tiếp:

- Lâu quá rồi nhỉ? Đấy là hồi vụ án mạng đầu tiên xảy ra trên đất này. Hồi đó tôi đã bảo: "Rồi còn xảy ra nữa". Cái bà Ingelthorp ấy, chính lão chồng đã giết.

Bà liếc mắt tinh quái:

- Lần này chắc cũng vậy thôi.

- Bà bảo sao? Tôi gắt lại. Bà không biết tòa đã phán quyết chết do tự tử sao?

- Tòa cũng có khi sai chứ!

Bà đưa khuỷu tay hích tôi:

- Là bác sĩ muốn khử ai thì quá dễ.

Tôi giận dữ nhìn bà, bà quay mặt đi, song vẫn tiếp:

- Dù sao cũng lạ là việc này lặp lại lần thứ hai. Và ông lại có mặt.

Tôi chợt nghĩ: hay là bà này nghi tôi là thủ phạm của cả hai vụ. Kỳ thay, ở một làng nhỏ thế này, người ta cũng nghĩ ra lắm chuyện! Mà bà già thực ra không hoàn toàn sai, vì tôi, tôi biết chắc là bà Franklin bị giết, chứ không tự tử.

Như đã nói, tôi nhớ không rõ những ngày sau đó. Trước hết, sức khỏe Poirot sút đi trông thấy. Một hôm, cutiss đếm tìm tôi, mặt không còn lỳ như mọi ngày, báo tin ông chủ vừa lên cơn đau nặng, và nói:

- Con nghĩ cần mời thầy thuốc.

Tôi lập tức chạy lên phòng ông, song ông kiên quyết phản đối mới thầy thuốc. Tôi thấy điều đó hơi lạ vì xưa nay Poirot rất quan tâm đến sức khỏe, thường cố tránh ngồi nơi gió lùa, quàng khăn cổ cẩn thận, không để chân bị ướt, hơi mệt là đi nằm và lấy nhiệt độ. Và tôi biết, dù hơi khó ở, ông đều hỏi ý kiến thầy thuốc.

Bây giờ ốm thực, ông lại làm trái lại. Nhưng có thể vì trước đó, ông chỉ mắc những chứng không nghiêm trọng. Giờ đây, ông sợ phải đứng trước sự thật hiển nhiên, nên ngại không đối mặt với thầy thuốc. Ông nói:

- Thầy thuốc ấy à, tôi đã khám rồi! Không phải một, mà nhiều thầy. Có hai ông thầy khuyên tôi đi nghỉ ở Ai Cập, rút cục bệnh lại nặng thêm.

Ông kể tên một bác sĩ nổi tiếng khác, chuyên về tim mạch.

- Ông ấy bảo sao? - Tôi hỏi ngay.

- Đã làm mọi thứ để làm - Poirot bình thản đáp. Đã cho thuốc. Nay có gọi thêm thầy thuốc nữa là vô ích. Bộ máy đã rão rồi, anh thấy không. Tiếc rằng không giống cái ôtô, chỉ thay động cơ là chạy được.

- Nhưng cũng phải làm cái gì chứ. Curtiss...

- Curtiss làm sao?

- Hắn nói rất lo cho ông. Hình như ông vừa lên cơn.

- Ồ! Chuyện vặt ấy mà.

- Ông thật sự không muốn khám lại?

- Đã nói rồi, vô ích.

Poirot nói giọng nhẹ nhàng nhưng nghiêm trọng. Lòng tôi se lại. Ông mỉm cười, nói tiếp:

- Cái vụ chúng ta đang theo đuổi, sẽ là vụ cuối cùng của tôi. Và cũng là vụ lý thú nhất, vì hunh thủ rất đặc biệt. Hắn có tài kỳ lạ, muốn hay không muốn, tôi phải khâm phục. Đến lúc này, hắn đã hành động khôn khéo đến mức Hercule Poirot này phải chịu thua. Hắn đã ra một đòn mà tôi không tìm ra cách đỡ...

- Nếu ông còn sức khỏe như ngày xưa...

Tôi nói câu ấy nhằm mục đích an ủi, song hóa ra là hớ.

- Đã bao nhiêu lần tôi nói với anh rằng sức mạnh cơ bắp không cần thiết? Để vạch mặt một hung thủ, cái chính là phải suy nghĩ, bắt các tế bào xám là việc.

- Ồ.. tất nhiên rồi. Việc ấy thì ông làm được. Rất tốt là đằng khác.

- Rất tốt? Tuyệt diệu nữa chứ! Chân tôi liệt, tim tôi thỉnh thoảng lên cơn, nhưng óc tôi vẫn hoạt động hoàn hảo.

- Thế thì tốt quá rồi.

Tuy nhiên, khi đi xuống nhà, tôi nghĩ: lần này thì bộ óc hoàn hảo của Poirot không theo kịp diễn biến sự việc nữa rồi. Trước hết là bà Luttrell sắp chết, rồi đến bà Franklin chết thật. Và chúng tôi đã làm gì để truy bắt thủ phạm? Hầu như không làm ggì.

Phần 2

Hôm sau, Poirot nói với tôi:

- Hôm qua, anh khuyên tôi nên khám bác sĩ.

- Đúng, như vậy tôi sẽ yên tâm hơn.

- Vậy thì anh vừa lòng nhé: tôi đồng ý. Tôi sẽ gặp bác sĩ Franklin.

- Franklin? Tôi ngạc nhiên nhắc lại.

- Ông ấy là bác sĩ, phải không nào?

- Đành thế, nhưng ông ấy chỉ chuyên nghiên cứu koa học.

- Tôi biết. Và chắc ông không giỏi về khám đa khoa. Nhưng dù sao cũng là bác sĩ. Và có thể ông cũng không kém đồng nghiệp là bao.

Tôi không hoàn toàn hài lòng. Tôi không nghi ngờ tài năng của Franklin, song ông ấy có bao giờ chú ý đến các bệnh thông thường. Dù sao Poirot cũng đã nhượng bộ và nhờ ông khám, do không có bác sĩ quen nào ở gần. Franklin tới ngay và còn nói nếu Poirot cần sự điều trị dài ngày, ông sẽ giới thiệu tới một chuyên gia khác.

Franklin ở khá lâu trong phòng Poirot. Khi ông ra, tôi kéo ông vào phòng mình, đóng cửa lại.

- Thế nào? Tôi hỏi dồn.

- Ông ấy là một người xuất sắc.

Tôi khoát tay:

- Điều đó, tôi biết rồi. Nhưng sức khỏe?

Franklin tỏ vẻ ngạc nhiên, dường như đó là vấn đề không quan trọng.

- Ồ! Sức khỏe thì không tốt lắm.

Đúng là một kiểu nói chung chung, vô thưởng vô phạt. Thế mà Judith, con gái tôi thường bảo ông là một sinh viên xuất sắc hồi học y.

- Tình trạng ông ấy thế nào? Tôi hỏi gặng.

Ông đăm đăm nhìn tôi một lát.

- Ông muốn biết à?

- Dĩ nhiên.

- Nhiều bệnh nhân không muốn biết rõ về bệnh tình, chỉ cần an ủi, động viện họ, để họ còn có hy vọng. Và nhờ đó có khi lui bệnh một cách kỳ lạ, bất ngờ. Tiếc thay, trường hợp ông Poirot không như vậy.

- Ông muốn nói...

Tôi thấy lòng thắt lại. Franklin khẽ gật đầu:

- Phải, không cứu chữa được. Tất nhiên, tôi nói vậy, vì đã được ông ấy cho phép.

- Vậy là... ông ấy đã biết.

- Biết. Ông ấy có thể suy sụp bất cứ lúc nào... Tất nhiên ta không thể nói thời gian chính xác.

Ngừng một lát, ông thong thả tiếp:

- Theo tôi hiểu, ông ấy không hoàn thành được... cái gì đó. Ông có biết là việc gì không?

- Có, tôi có biết.

Franklin nhìn tôi bằng ánh mắt tò mò.

- Ông ấy muốn nhất định phải hoàn thành việc đã định.

Không hiểu ông bác sĩ này có biết việc gì không, nhưng ông đã nói tiếp.

- Tôi hy vọng ông ấy sẽ làm được. Có cảm giác đối với ông việc này rất quan trọng. Ông ấy có đầu óc khoa học lắm.

- Ta có thể làm gì không? Có cách chữa trị nào...

Ông thong thả lắc đầu:

- Không. Ông ấy có sẵn những ống thuốc trợ tim rất tốt để uống khi nào lên cơn. Ngoài ra, không còn cách nào khác.

Sau vài giây lưỡng lự, ông hỏi một câu rất lạ:

- Ông ấy rất tôn trọng tính mệnh con người, có phải không?

- Vâng, có như vậy.

Biết bao lần tôi đã nghe Poirot tuyên bố: "Tôi phản đối giết người".

- Đó là sự khác nhau giữa chúng tôi. Tôi không có được sự tôn trọng như thế.

Tôi nhìn ông, không nói. Ông nghiêng đầu, mỉm cười.

- Phải không nào? Đằng nào cũng chết, thì chết sớm một chút hay muộn có nghĩa gì? Chẳng khác gì nhau.

- Nếu ông nghĩ vậy, tại sao ông lại chọn nghề chữa bệnh? Tôi hỏi, có ý bất bình.

- Y học không có nghĩ chỉ làm chậm cái chết. Hơn thế nhiều, nó nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống. Một người khỏe chết đi, điều đó không quan trọng lắm; một thằng tồi, một thằng đểu chết đi, lại là điều tốt. Nhưng nếu ta tìm ta cách biến thằng đểu thành người bình thường - ví dụ bằng cách chỉnh lại hoạt động của các hạch - đó mới là điều có tầm quan trọng lớn.

Tôi nhìn ông bác sĩ với sự hứng thú đặc biệt. Nếu tôi bị bệnh cúm, chắc chẳng dám nhờ đến ông, vì chưa chắc ông đã chữa được. Song sự thành tâm và ý nghĩ táo bạo của ông, ta phải ngã mũ chào. Từ khi vợ chết, tôi nhận thấy ông có chút thay đổi. Ông có buồn phiền hay không, không thếy ông để lộ ra. Ngược lại, ông có vẻ sinh động hơn, ít lơ đãng hơn.

Bỗng dưng, ông đưa ra nhận xét.

- Judith và ông, hai người khác nhau quá, phải không?

- Vâng, có thể.

- Cô ấy có giống mẹ không?

Tôi suy nghĩ và lắc đầu:

- Không thật giống. Vợ tôi luôn vui tươi, , thoải mái, gặp chuyện không hay vẫn vui. Cô ấy muốn tôi cũng như thế, nhưng tôi không làm được.

- Ông thuộc loại ông bố cao đạo, phải không? Ấy là Judith nói vậy. Cô ấy không mấy khi cười, rất nghiêm túc và ham làm việc quá. Một phần cũng tại tôi.

- Việc của ông chắc thú vị lắm - tôi nói.

- Thú vị với vài người thôi. Người khác cho là nhàm chán. Có khi họ nói đúng.

Ông hất đầu ra phía sau, nhô vai lên, trở lại con người thật của ông: mạnh mẽ, đầy nghị lực.

- Nhưng bây giờ cơ hội của tôi đã đến. Văn phòng bộ trưởng vừa cho biết chức vụ vẫn để trống, nó sẽ thuộc về tôi nếu tôi muốn. Mười ngày nữa tôi sẽ đi.

- Đi châu Phi?

- Phải.

- Vội thế ư?

Thú thật, tôi cảm thấy bất ưng.

- Ông bảo sao? Ồ, chắc ông nghĩ tới Barbara vừa mất. Ôi chao, việc gì phải giấu giếm rằng bà ấy mất đi làm tôi nhẹ mình? Tôi không có thì giờ để giữ thái độ phải phép theo lệ tục. Tôi yêu Barbara - lúc đó là một thiếu nữ rất xinh đẹp - tôi lấy cô, rồi chỉ sau một năm là hết yêu. Có lẽ tôi làm cô ấy thất vọng, vì cô tưởng có thể gây ảnh hưởng với tôi, nhưng không được. Tôi công nhận mình là một thằng tồi, ích kỷ, bao giờ cũng chỉ làm theo ý mình.

- Nhưng vừa rồi ông từ chối nhận chức vụ ở châu Phi là vì bà.

- Phải, nhưng đó là vì lý do tài chính. Tôi đã giữ cho cuộc sống của Barbara phong lưu như trước khi lấy chồng, nay nếu tôi đi, bà ấy sẽ gặp khó khăn.

Ông nở một nụ cười như trẻ con:

- Nhưng nay mọi việc lại xoay sang chiều thuận lợi lạ lùng.

Tôi thực sự công phẫn. Đằng rằng không phải đàn ông nào chết vợ cũng đau khổ. Nhưng như Franklin thì quá trâng tráo.

Ông vẫn nhìn tôi, nhưng không mảy may bận tâm đến thái độ bất đồng vủa tôi.

- Phải nhìn thẳng vào sự thật, ông nói tiếp. Như vậy đỡ mất thì giờ vì những lời rào đón vô bổ.

Tôi sẵng giọng:

- Vợ ông tự tử, ông không lấy thế làm buồn?

Ông ra vẻ trầm tư:

- Tôi không nghĩ bà ấy tự tử. Giả thuyết ấy là vô lý.

- Vậy thì là cái gì?

- Tôi không biết. Và có lẽ tôi cũng không muốn biết. Hiểu không?

Mắt ông ánh lên nhửng nét rắn chắc, lạnh lùng:

- Không, tôi không muốn biết. Tôi không quan tâm.

Phần 3

Tôi không nhớ chính xác lúc nào thì tôi nhận ra là Norton có vẻ bận tâm, tư lự. Sau cuộc điều trần và tang lễ, anh ta cứ lầm lì không nói đi lang thang, trán nhăn, mắt cắm xuống đất. Anh ta có thói quen đưa tay lùa lên mái tóc làm tóc dựng đứng, trông buồn cười. Cử chỉ vô thức đó lặp đi lặp lại chứng tỏ nội tâm có gì xao xuyến. Khi có người hỏi, anh đáp hờ hững. Tôi liền đánh bạo hỏi có phải anh nhận được tin buồn, thì anh lắc đầu. Tuy nhiên, lát sau, có vẻ như anh tìm cách vòng vo để hỏi ý kiến tôi về điều anh đang khúc mắc. Anh lúng búng - bao giờ cũng thế mỗi khi anh định nói chuyện nghiêm chỉnh - kể một chuyện rối rắm liên quan đến vấn đề đạo đức.

- Bảo cái này là tốt, cái kia là xấu, hình như dễ lắm, có phải không? Ấy vậy mà có trường hợp lại không thế. Ví dụ, tình cờ ta thấy một cái gì không liên quan đến ta, mà ta cũng chẳng rút ra lợi lộc gì, nhưng cái đó lại cực kỳ quan trọng. Ông hiểu tôi nói gì.

- Thú thực, không hiểu lắm.

Anh ta cau mày, đưa tay lên tóc.

- Khó giả thích thật. Giả thử, ông đọc được cái gì trong một bức thư riêng - nghĩa là thư gửi cho người khác mà ông vô tình mở ra. Ông bắt đầu đọc, vì tưởng là thư gửi mình và trước khi biết mình nhầm, thì đã biết được một điều lẽ ra ông không được biết. Việc ấy có thể xảy ra, có phải không?

- Phải.

- Vậy trường hợp ấy, làm thế nào?

- Ờ...

Tôi suy nghĩ một lát, rồi nói:

-... Có lẽ nên gặp chủ bức thư ấy, và xin lỗi đã mở nhầm.

Norton thở một hơi dài.

- Đâu có đơn giản như vậy. Vì chẳng hạn, anh đã đọc một chi tiết... bất tiện.

- Anh muốn nói, bất tiện với người kia? Thì ta phải làm như chưa đọc tí gì, vì đã kịp thời nhận ra không phải thư của mình.

- Phải, có lẽ thế - Norton đáp sau một lát im lặng.

Nhưng anh ta có vẻ chưa thỏa mãn với giải pháp ấy:

- Tôi vẫn muốn suy nghĩ xem nên phải làm gì - anh đăm chiêu nói tiếp.

Tôi khẳng định không còn cách nào khác, nhưng anh ta vẫn tư lự:

- Tôi còn thấy một điều này nữa. Giả thử điều ta vừa vô ý đọc được lại cũng rất quan trọng với một người thứ ba.

Tôi bắt đầu sốt ruột:

- Quả thực, anh Norton, tôi không hiểu anh định đi tới đâu. Ta không được đọc thư riêng của người khác, có thế thôi...

- Tất nhiên là không nên rồi. Tôi có ý kiến gì về vấn đề đó đâu. Vả lại, thực ra đây không phải bức thư. Tôi chỉ lấy ví dụ để ông hiểu thôi. Tất nhiên, bất cứ cái gì ta có thể đọc, thấy hoặc nghe, ta phải giữ kín cho mình. Trừ khi...

- Trừ khi... làm sao?

- Trừ khi là một điều mà ta có nghĩa vụ phải nói ra.

Tôi lại bắt đầu chú ý. Norton tiếp:

- Giả thử ông nhìn thấy điều gì qua lỗ khóa.

Tôi bỗng nghĩ đến Poirot.

- Tất nhiên, về nguyên tắc, đây là tôi nói ông có lý do chính đáng nhìn qua lỗ khóa: ví dụ khóa bị hóc... Tóm lại ông không có ý định nhìn cái ông đã nhìn.

Tôi chợt nhớ cái hôm Norton giương ống nhòm để quan sát con chim gõ kiến. Tôi nhớ anh ta tỏ ra lúng túng, ngượng nghịu, rồi cố tình ngăn không cho tôi nhìn cái anh ta đã nhìn. Lúc đó, tôi đã kết luận ngay là cái anh ta nhìn thấy ít nhiều có liên quan đến tôi: nói toạc ra, tôi cho là anh đã nhìn thấy Judith và Allerton. Nhưng nhỡ tôi lầm? Nhỡ đó là cái gì hoàn toàn khác? Hôm đó tôi bị ám ảnh bởi chuyện đó nên không thể nghĩ ra là cái gì khác.

- Có phải là cái gì anh nhìn thấy qua ống nhòm? - Tôi hỏi thẳng. Norton vừa ngạc nhiên vừa hoan hỉ:

- Sao... ông đoán được?

- Hôm đó chúng ta đứng trên mô đất cùng Cole, phải không nào?

- Phải.

- Và anh không muốn để tôi nhìn.

- Không. Không phải... tôi muốn nói là... Không ai được biết điều đó.

- Rốt cục là cái gì?

Norton sa sầm nét mặt:

- Tất cả vấn đề là ở đó. Tôi có được phép nói ra không? Vì... vì... cứ như là do thám ấy. Tôi đã nhìn thấy một cái mà bình thường ra, tôi sẽ không nhìn. Mà tôi có định nhìn đâu, tôi nhìn con chim gõ kiến cơ mà. Nhưng rồi, lại nhìn... nhìn thấy.

Tôi tò mò muốn chết, sốt ruột muốn biết đó là cái gì, song tôi tôn trọng sự đắn đo của Norton.

- Có phải điều gì quan trọng lắm không? Tôi hỏi

- Tôi không biết. Có thể lắm.

- Có liên quan đến cái chết của bà Frankiln không?

Norton giật nẩy mình:

- ông cũng hỏi tôi thế ư...

- Thế thì tôi đoán đúng.

- Hờ... không hoàn toàn liên quan. Nhưng việc ấy có thể làm nổi lên một cách nhìn mới với vài sự việc. Và như thế có nghĩ là... Ồ! Nhưng kệ thây tất cả! Song thực sự tôi không biết nên thế nào.

Rõ ràng Norton vẫn không muốn cho tôi biết anh ta đã nhìn thấy gì. Tôi thông cảm, vì ở địa vị tôi, có lẽ tôi cũng cư xử như vậy. Thật phiền khi ta có những thông tin lượm được bằng một cách mà người khác sẽ cho là không lịch sự.

Bỗng tôi nảy ra một ý:

- Hay anh thử hỏi ý kiến Poirot xem?

- Poirot? Norton hỏi lại, vẻ ngạc nhiên.

- Phải. Cứ xin ông ta một lời khuyên.

Sau một lát, Norton nói:

- Có lẽ ông nói phải. Tất nhiên, ông ấy là người nước ngoài...

- Ông ấy sẽ giữ kín cho anh. Nhưng dĩ nhiên, anh nhất thiết không cứ phải nghe theo lời khuyên của ông ấy.

- Được. Có lẽ tôi nên đi gặp ông ấy.

Phần 4

Tôi ngạc nhiên vì phản ứng của Poirot. Ông hỏi dồn:

- Anh Hastings, anh bảo gì?

Poirot để rơi miếng bánh sắp đưa lên miệng, ghé sát vào tôi:

- Nói lại tôi nghe!

Tôi làm theo. Ông đăm chiêu, kết luận:

- Thế là hôm đó, anh ta đã thấy điều gì qua ống nhòm. Một cái gì mà anh ta không muốn cho anh biết?

Ông níu cánh tay tôi:

- Anh ta không nói lại với bất kỳ ai chứ?

- Chắc là không.

- Hastings, anh hãy cẩn thận. Điều quan trọng là anh không được nói với ai. Nếu không, hậu quả sẽ rất nguy hiểm.

- Hậu quả... nguy hiểm?

- Đúng như tôi đã nói.

Khuôn mặt Poirot trở nên cực kỳ nghiêm trọng:

- Anh hãy thu xếp cho anh ta gặp tôi tối nay. Một cuộc gặp có tính bạn bè. Đừng để cho ai nghĩ là anh ta có lý do đặc biệt gì phải gặp tôi. Hastings này, hôm ấy cùng với anh còn ai nữa?

- Cô Cole.

- Cô ấy có nhận ra điều gì hơi lạ trong thái độ của Norton?

Tôi cố nhớ lại:

- Không biết. Có thể lắm. Hay để tôi hỏi cô xem...

- Không hỏi gì cả. Tuyệt đối không.

Theo Tôi, Không Có Gì Buồn Hơn Là Sự Suy Thoái Của Tuổi Già. (15)

Tôi lập tức chuyển lời mời của Poirot tới Norton. Anh nói:

- Được. Tôi sẽ gặp. Nhưng, ông Hastings ạ, có lẽ tôi rất tiếc là đã nói ra chuyện này, ngay cả với ông.

- Nhưng mà, anh chưa nói với ai khác chứ?

- Không. Trừ khi... không, chắc chắn không?

- Có thật vậy không?

- Thật. Tôi không nói với ai.

- Vậy thì chớ nói với bất kỳ ai trước khi gặp Poirot.

Tôi đã để ý ngay đến sự lưỡng lự của Norton trong câu trả lời thứ nhất, nhưng đến câu thứ hai thì tôi yên tâm. Tuy nhiên về sau, tôi buộc phải nhớ tới sự lưỡng lự ấy. Một lần nữa tôi lại trèo lên mô đất um tùm cỏ dại hôm trước, và thật bất ngờ tôi lại gặp Elizabeth Cole ở đó. Tôi vừa bước lên đỉnh thì cô quay mặt lại:

- Ông Hastings, sao trông ông hồi hộp vậy? Có chuyện gì làm ông bận tâm?

Tôi cố lấy bình tĩnh:

- Không, có gì đâu. Chỉ hơi thở mạnh.

Và nói thêm, vẻ thản nhiên:

- Hình như trời sắp mưa.

Cô ngước mắt nhìn trời:

- Phải, tôi cũng thấy thế.

Chúng tôi yên lặng đến một, hai phút. Người phụ nữ trẻ này có một cái gì khiến tôi rất dễ mến. Từ khi cô thú thật lai lịch của mình và tâm sự về quãng đời đau thương trước đây, tôi càng chú ý đến cô hơn. Hai con người thường gặp bất hạnh tất dễ cảm thông nhau và tôi thành thực mong cô sẽ có một tương lai sáng sủa. Tôi nói một cách bột phát:

- Hôm nay tôi hơi buồn. Có nhiều tin không vui về ông bạn già.

- Ông Poirot?

Sự quan tâm đầy thông cảm của cô khiến tôi không ngần ngại tâm sự. Tôi nói xong, cô im lặng lúc lâu rồi mới nói:

- Tôi hiểu. Vậy là sớm muộn rồi sẽ chấm dứt.

Tôi nói:

- Nếu ông ấy mà ra đi, tôi sẽ cảm thấy hoàn toàn đơn độc.

- Ồ! Nhưng ông còn Judith. Và những đứa con khác.

- Chúng ở tản mát bốn phương trời. Con Judith có công việc của nó. Nó không cần đến tôi.

- Tôi cảm thấy con cái chỉ cần đến bố mẹ khi nào chúng gặp khó khăn. Đó là quy luật bất di bất dịch. Song tôi còn cô đơn hơn ông. Hai chị tôi ở rất xa: một ở Mỹ, một ở Ý.

- Cô ơi đời cô còn dài.

- Băm nhăm tuổi còn gì.

- Băm nhăm là nghĩa gì? Tôi mong được trở lại tuổi ấy.

Và tôi nói nghịch:

- Cô biết không, mắt tôi không mù đâu.

Cô nhìn tôi dò hỏi, rồi đỏ mặt:

- Ông nghĩ gì vậy... ồ, Norton và tôi chỉ là bạn, không còn gì khác. Hai người có một vài điểm chung, nhưng...

- Thì hãy thế.

- Anh ấy... thật tốt. Nhưng ông cũng oái oăm. Ông tưởng tôi còn có thể nghĩ đến chuyện chồng con được sao? Chị tôi là kẻ giết người. Nếu không, thì là kẻ điên loạn. Đằng nào cũng chẳng hay hớm gì.

- Cô không nên băn khoăn việc đo. Chớ quên rằng... có thể đó không phải là sự thật.

- Ông nói gì? Đó là sự thật.

- Cô nhớ không, một lần cô nói với tôi: "Không phải chị Maggie".

- Đó chỉ là cảm nghĩ...

- Cảm nghĩ nhiều khi phù hợp với sự thật.

Cô mở to mắt nhìn tôi.

- Ông nói rõ xem nào.

- Chị cô không phải là thủ phạm thực sự.

Cô đưa tay lên miệng, nhìn tôi chăm chú, vẻ hốt hoảng.

- Ông mất trí rồi. Làm sao ông có ý nghĩ ấy?

- Không hề gì. Một ngày nào đó, tôi sẽ chứng minh cho cô thấy là tôi nói đúng. Tôi về tới nhà thì gặp Boyd Carrington. Ông báo tin:

- Hôm nay là ngày cuối cùng tôi ở Styles. Mai tôi đi.

- Đi Knatton?

- Vâng.

Ông khẽ thở dài, nói tiếp:

- Nói thật với ông, tôi lấy làm mừng được rời khỏi nơi đây.

Tôi nhún vai

- Phải rồi, tôi cũng biết là ở đây ăn không ngon, phục vụ kém, song...

- Không phải vì chuyện ấy. Dù sao, tiền tọ rẻ, ta không thể đòi hỏi hơn. Không, không phải tôi nói chuyện vật chất. Chỉ là tôi không ưa cái nhà này, không khí làm sao ấy, rất khó giải thích. Có lẽ vì là nơi trước đây đã có án mạng nên không thể được như cũ nữa. Lắm chuyện xảy ra quá... Bà Luttrell bị tai nạn, nay lại đến Barbara tội nghiệp...

Ông yên lặng một lát, chìm trong suy nghĩ rồi nói thêm:

- Tôi không bao giờ nghĩ cô ấy là người muốn tự tử.

Tôi phân vân trước khi đáp:

- Ai mà biết chắc...

Ông đưa tay ngăn:

- Không, tôi chắc. Ông nhớ không, hôm trước suốt ngày tôi đi với cô ấy. Hoàn toàn vui vẻ, phấn khởi. Cô ấy chỉ băn khoăn một điều: lo chồng quá say mê công việc rồi đi quá xa, đem thân mình ra làm thí nghiệm cho nhựng thứ thuốc độc chết tiệt. Ông Hastings, ông biết tôi nghĩ gì không?

- Không.

- Chính ông chồng phải chịu trách nhiệm, với cái tính lầm lỳ, cáu gắt của ông ta. Đi với tôi, Barbara luôn vui vẻ, hạnh phúc. Nhưng ông chồng thì quá lộ liễu, cho rằng mình bị vợ cản trở sự nghiệp. Sự nghiệp cái con khỉ! Một con người trơ trơ, chẳng có cảm xúc. Vợ chết thê thảm như vậy hắn chẳng mảy may xúc động. Hắn vừa nói với tôi rằng bây giờ hắn có thể yên tâm sang châu Phi. Nói thật nhé, nếu ai nói rằng chính ông ta giết vợ, tôi sẽ không ngạc nhiên...

- Thôi nào! Tôi kêu. Ông nói không nghiêm túc.

- Đành là không. Nhưng là tôi nghĩ nếu hắn định giết, hắn sẽ làm cách khác. Ai cũng biết hắn đang nghiên cứu chất physostigmine nên hắn không dại gì dùng chất đó. Mặc dù vậy, không phải mình tôi thấy Franklin là một nhân vật kỳ lạ. Tôi nắm thông tin này từ một người đáng tin cậy.

- Ai vậy? Tôi hỏi ngay.

- Cô Craven.

Tôi không giấu sự ngạc nhiên:

- Sao?

- Suỵt! Khẽ chứ. Phải, chính cô ta làm tôi nảy ý nghĩ trên. Cô ta rất thông minh và rất tinh, không gì qua được mắt. Cô không ưa Franklin.

Thoạt đầu, tôi tưởng cô Craven chì không ưa bà Franklin là bệnh nhân khó tính. Chắc hẳn cô biết hiều chuyện về đôi vợ chồng này.

- Tối nay, cô ấy ở đây.

- Ông nói gì?

Tôi ngạc nhiên, vì ngay sau lễ tang bà Franklin, cô đã rời khỏi Styles. Ngay từ bấy giờ, tôi phải nói rằng chưa bao giờ nghĩ Poirot có thể thất bại. Trong cuộc chiến chống lại X, tôi không bao giờ tin X có thể thắng. Mặc dù ông yếu đau, tôi vẫn hoàn toàn tin tưởng vào ông, ông là người mạnh nhất trong hai đối thủ. Vì nhiều năm nay, tôi đã quen nhìn thấy ông chiến thắng.

Nhưng cũng lại chính ông đã gieo trong tôi sự nghi ngờ. Trước khi xuống ăn trưa, tôi lên thăm ông, và khong hiểu sao ông buột biệt nói ra câu này:

- Nếu xảy ra chuyện gì với tôi...

Tôi cực lực phải đối, nói không thể có chuyện gì xảy ra.

- Vậy anh không chú ý nghe những lời của bác sĩ Franklin - Poirot nói.

- Franklin không thể biết tất cả. Ông còn sống nhiều năm nữa.

- Có thể, nhưng không chắc. Song tôi muốn nói đến một khả năng khác kia. Mặc dù tôi có thể chết nay mai, song với ngài X, như thế vẫn là muộn quá.

- Cái gì? Tôi sửng sốt kêu lên.

- Chứ sao. X là một tên thông minh, rất thông minh. Và hắn sẽ hiểu rằng thủ tiêu tôi sớm - dù chỉ là ít ngày trước khi tôi chết - cũng là thuận lợi vô giá đối với hắn.

- Thế thì... thế thì cái gì sẽ xảy ra?

- Trong chiến đấu, nếu sĩ quan chỉ huy gục ngã, thì người phó lên thay. Vậy nếu có làm sao, anh có trách nhiệm tiếp tục công việc.

- Tôi làm làm sao được? Tôi không biết gì, như người đi trong đêm.

- Tôi đã lường trước mọi việc. Nếu tôi mệnh hệ nào, anh sẽ có tất ả những tài liệu cần thiết.

Ông vỗ vỗ vào chiếc cặp có khóa đặt bên mình.

- Việc gì phải vòng vèo thế. Ông nói ngay bây giờ những gì tôi phải biết có đơn giản hơn không.

- Không, không. Anh không biết một số điều mà tôi biết, như vậy càng có lợi cho anh.

- Tài liệu ông để đây, hẳn là tường trình chi tiết vụ việc.

- Không phải đâu, vì X có thể âm mưu đánh cắp.

- Vậy là cái gì?

- Những chỉ dẫn, nếu X đọc thì chẳng ích gì, nhưng với anh, sẽ giúp anh tìm ra sự thật.

- Tôi không tin lắm. Tại sao đầu óc ông lại nhiều khê đến thế? Ông cứ thích làm phức tạp thêm mọi chuyện.

- Anh cho chuyện ấy ở tôi đã thành tật mất rồi, có phải không? Có thể anh nói đúng. Nhưng hãy yên tâm, những chỉ dẫn này sẽ đưa anh tới sự thật.

Ông ngừng lời, rồi lát sau nói tiếp:

- Và lúc đó, sợ rằng anh lại không muốn chúng đưa anh đi quá xa thế. Và anh sẽ nói: "Hạ màn đi!"

Giọng Poirot có một điệu gì khiến lại nổi trong tôi nỗi sợ hãi mơ hồ mà tôi đã cảm thấy vài ba lần. Cứ như là có điều gì khuất mắt mà tôi không muốn nhìn, không thể chịu đựng. Một điều mà trong thâm tâm, tôi đã biết rồi.

Tôi gạt ý nghĩ đó đi, chào Poirot rồi xuống phòng ăn.

Theo Tôi, Không Có Gì Buồn Hơn Là Sự Suy Thoái Của Tuổi Già. (16)

Bữa ăn khá vui. Bà Luttrell lại cùng ngồi ăn với chúng tôi, nói cười tự nhiên. Franklin hồ hởi, phấn khởi như tôi chưa từng thấy. Lần đầu tiên, tôi thấy cô Craven không bận sắc phục y tá, trút bỏ bộ dạng nghề nghiệp, nghiêm trang, có vẻ xinh đẹp, hấp dẫn hơn.

Sau bữa ăn, bà Luttrell đề nghị đánh bài, song cuối cùng mọi người chỉ chơi những trò đơn giản hơn. Khoảng chín giờ rưỡi, Norton ngỏ ý lên thăm Poirot.

- Hay đấy, Boyd Carrington nói. Tôi cùng đi với anh.

Tôi liền ngăn:

- Theo tôi, không nên... Ông biết đấy, tiếp nhiều người làm ông ấy mệt.

Norton hiểu ý, nói luôn:

- Tôi chỉ mang cho ông cuốn sách nói về chim. Hôm qua tôi đã hứa.

- Được thôi, Boyd Carrington nói. Nhưng... rồi ông lại xuống chứ, ông Hastings.

- Nhất định rồi.

Tôi cùng lên với Norton, Poirot đang chờ. Sau khi nói vài câu, tôi lại xuống phòng khách. Chúng tôi đánh một ván bài ra-mi.

Tôi có cảm giác Boyd Carrington khó chịu vì bầu không khí vô tư tối ấy. Hẳn ông cho rằng vừa có chết chóc, mà sao mọi người đã quên nhanh như vậy. Ông tỏ vẻ đãng trí, ra quân vụng về, rồi cuối cùng xin lỗi và đứng lên, ra mở cửa sổ. Xa xa, tiếng sấm ầm ì, mà cơn giông chưa tới. Boyd Carrington lại đóng cửa, quay về đánh bài, đứng nhìn một lúc rồi đi ra.

Tôi về phòng lúc mười một giờ kém mười lăm. Poirot chắc đã ngủ nên tôi không ghé vào. Vả lại, tôi không muốn phải đề cập đến vấn đề lâu nay lấn cấn. Tôi muốn ngủ và quên.

Tôi bắt đầu thiu thiu thì có tiếng động làm tôi nhỏm dậy. Tưởng có ai gõ cửa, tôi nói: "Cứ vào!". Không nghe trả lời, tôi bật đèn, ra khỏi giường và ngó ra ngoài hành lang.

Tôi thấy Norton từ phòng tắm đi ra, trở về phòng mình. Anh ta mặc bộ áo ngủ kẻ ô màu đặc biệt xấu xí, tóc bù xù như mọi khi. Cửa khép lại, và ngay sau đó tôi nghe tiếng chìa khóa xoay trong ổ.

Sấm nổi lên ầm ầm, to hơn lúc trước. Cơn dông tới gần.

Tôi trở về giường, hơi khó chịu về cái tiếng chìa khóa trong ổ, nghe như báo hiệu chuyện không hay. Norton có thói quen khóa kỹ cửa phòng ban đêm vậy sao? Hay Poirot đã khuyên anh ta phải đề phòng? Tôi chợt nhớ là chìa khóa cửa phòng Poirot đã bí mật biến mất chỉ ít lâu sau khi ông tới.

Nằm trên giường, mắt mở to, tôi thấy nỗi lo càng ngày càng tăng, tiếng sấm liên hồi làm tôi thêm nóng ruột. Cuối cùng tôi nhỏm dậy ra cửa, để khóa nó lại. Rồi mới quay vào, đi ngủ.

Phần 2

Sáng hôm nay, trước khi xuống điểm tâm, tôi rẽ vào phòng Poirot. Ông vẫn nằm. Nhìn thấy những nếp nhăn hằn sâu trên mặt, tôi thấy ông có vẻ rất yếu ớt.

- Sáng nay, ông thấy trong người thế nào? Tôi hỏi.

Ông nở nụ cười nhợt nhat.

- Anh bạn ơi, tôi vẫn tồn tại.

- Nhưng không đau gì chứ.

Ông thở dài:

- Không, chỉ mệt thôi. Rất mệt.

- Tối qua thế nào? Norton có nói hắn nhìn thấy gì hôm đó?

- Có, có nói.

- Là cái gì?

Poirot đăm chiêu nhìn tôi hồi lâu rồi mới đáp:

- Không biết tôi có nên nói lại với anh không. Sợ anh suy diễn...

- Ông nói rõ xem nào.

- Norton nói nhìn thấy hai người.

- Judith và Allerton! Tôi thốt lên. Tôi biết ngay mà.

- Không. Không phải Judith và Allerton. Tôi chả bảo là anh sẽ suy diễn mà! Anh cố chấp lắm.

- Xin lỗi - Tôi bối rối, nói. Vậy là ai?

- Có lẽ mai tôi sẽ nói. Tôi còn nhiều điều phải nghĩ.

- Chuyện trò với Norton, ông có biết thêm điều gì làm sáng tỏ vụ việc của chúng ta không?

Poirot gật đầu, rồi nhắm mắt, ngả người xuống gối. Ông nói:

- Vụ việc đã kết thúc. Chỉ còn vài chi tiết cần làm rõ. Anh xuống ăn sáng đi. Và gọi Curtiss cho tôi, được không?

Tôi làm theo. Vả tôi cũng muốn gặp Norton, nóng ruột xem anh ta đã nói gì với Poirot. Thực lòng tôi không thỏa mãn. Sự kém nhiệt tình của Poirot khiến tôi bực dọc.Tại sao úp úp mở mở, giữ bí mật đến thế? Và tại sao Poirot có vẻ buồn bã một cách khó hiểu? Lý do sâu xa là ở đâu?

Norton không có trong phòng ăn. Điểm tâm xong, tôi đi một vòng quanh vườn. Cơn dông ban đêm đã làm không khí mát lạnh, và tôi nhận thấy mưa khá to. Boyd Carrington đứng trên bồn cỏ. Tôi mừng gặp được người có thể tâm sự và tôi rất muốn thổ lộ hết. Poirot không còn khả năng hành động một mình. Nhưng Boyd Carrington sớm nay trông đầy sinh lực, khiến tôi vững dạ.

- Ông xuống muộn, Boyd nói.

- Vâng. Tôi ngủ trưa hơn mọi ngày.

- Đêm qua dông to quá. Ông có nghe thấy gì không?

- Tôi chỉ nhớ mang máng có nghe tiếng sấm ầm ì trong giấc ngủ.

- Hôm qua tôi thấy không khỏe lắm, Boyd nói tiếp. Hôm nay khá hơn nhiều rồi.

Ông vươn vai ngáp. Tôi hỏi:

- Norton đâu?

- Có lẽ chưa xuống. Anh ta chúa đại lãn, ông biết đấy.

Không ai bảo ai, chúng tôi cùng ngước mắt nhìn lên. Cửa phòng Norton ở ngay trên đầu. Tôi ngạc nhiên nhận ra trong các cửa, chỉ có mỗi cửa của Norton còn đóng.

- Lạ quá, tôi nói. Mọi người quên gọi anh ta dậy chăng?

- Đúng là lạ. Hy vọng cậu ta không ốm. Ta lên xem sao.

Chúng tôi cùng lên gác. Cô hầu phòng, người hơi đần, đang ở trong hành lang gác hai. Boyd Carrington hỏi, cô ta nói đã gõ cửa mà không thấy Norton thưa. Tôi lại gần: đúng là cửa khóa. Lòng tôi bỗng có linh cảm xấu. Tôi đá mạnh vào cánh cửa gỗ, gọi:

- Norton... Norton! Dậy đi.

Rồi hét to.

- Dậy, dậy!

Đã rõ ràng là không có tiếng trả lời, chúng tôi đi tìm đại tá Luttrell. Ông vừa nghe vừa đưa tay dứt râu, mắt hốt hoảng. Bà vợ, bao giờ cũng quyết đoán, biết ngay phải làm gì, nói:

- Bằng cách nào cũng phải mở cửa.

Lần thứ hai trong đời, tôi lại chứng kiến một vụ phá cửa ở Styles. Và sau cánh cửa đó, chúng tôi thấy cái trước kia đã thấy: một xác chết.

Norton nằm trên giường, trong bộ áo ngủ, tay phải còn nắm chặt khẩu súng lục. Đúng giữa trán là một lỗ đạn sâu hoắm. Chìa khóa phòng nằm trong túi áo.

Ngay lúc đó, tôi không thể nhớ ra điều đó là thế nào. Tôi quá xúc động không thể nghĩ ra. Tôi vừa bước vào, Poirot đã nhận thấy bộ mặt ngơ ngác của tôi, hỏi ngay:

- Chuyện gì vậy? Norton?

- Chết rồi!

- Bao giờ? Thế nào?

Tôi nói vài câu vắn tắt, rồi kết luận:

- Rõ là tự tử rồi, không thể có giả thuyết nào khác. Cửa khóa từ bên trong, chìa khóa nằm trong túi áo Norton. Các cửa sổ cũng đóng. Tối qua, tôi đã trông thấy anh ta vào phòng, nghe tiếng khóa cửa.

- Anh nhìn thấy? Có thật anh nhìn thấy, và người ấy có phải là Norton?

- Chắc chắn. Cái màu áo ngủ ấy thì lẫn đi đâu được.

Poirot bỗng trở lại cái cung cách trước đây.

- Ồ! Tôi hỏi trông thấy người, có phải trông thấy áo đâu. Bất cứ người nào cũng có thể mặc áo ngủ giống áo ngủ của Norton.

- Đành rằng tôi không nhìn rõ mặt. Nhưng còn bộ tóc bù xù và... cái dáng đi hơi tập tễnh...

- Người nào cũng có thể giả vờ tập tễnh.

Tôi trố mắt nhìn ông bạn:

- Ông cho rằng người tôi nhìn thấy không phải là Norton?

- Tôi không hề bảo vậy. Tôi chỉ phân vân vì những lý do anh đưa ra để khẳng định đó là Norton, chứ tôi không phân cãi là không phải Norton. Thật khó có thể là ai khác, vì tất cả những người trong nhà này đều có tầm vóc cao hơn anh ta. Anh ta chỉ cao khoảng một mét sáu nhăm. Dù sao, cũng như trò quỷ thuật ấy nhỉ? Anh ta và phòng, khóa cửa, bỏ chìa khóa vào túi và hôm sau, khi phát hiện anh ta chết, chìa khóa vẫn nguyên trong túi.

- Vậy ông không tin là... Norton tự tử?

Poirot thong thả lắc đầu:

- Không. Norton không tự tử, anh ta bị giết. Tôi hoang mang tột độ. Điều Poirot vừa nói thật khó lý giải, và tôi không hiểu cũng phải, mọi người hãy lượng thứ cho tôi. Tôi đã không đoán ra sự thật, vì đầu óc u mê của tôi không làm việc tỉnh táo.

Tuy nhiên, tất cả đều rất lô-gích! Norton bị giết. Tại sao? Tôi nghĩ bụng, chắc là để anh ta không nói ra đã nhìn thấy cái gì.

Nhưng anh ta đã nói với một người rồi! Và như thế là người đó nay cũng đang gặp nguy hiểm. Không những nguy hiểm mà còn không có khả năng tự vệ.

Lẽ ra tôi phải hiểu.

Lẽ ra tôi phải lường trước.

- Ông bạn ơi! Poirot nói với tôi như thế khi tôi đi ra.

Đó là những lời cuối cùng của Poirot.

Và khi Curtiss vào, hắn thấy chủ hắn đã chết.
         Mục lục Chế độ đọc
Chia sẻ truyện Thám Tử Rời Sân Khấu - chương 5 tới bạn bè để mọi người cùng đọc nhé !
Bình luận truyện Thám Tử Rời Sân Khấu
loadingĐang cập nhật phản hồi
Đăng nhập để bình luận !
Các bạn đang đọc truyện Thám Tử Rời Sân Khấu - chương 5. Chúc các bạn đọc truyện vui vẻ !
lên đầu trang truyện
0.241463184357 sec