Kì nghỉ hè của PoirotKì nghỉ hè của Poirot - chương 14

Chương 14Tải chương
Truyện tổng hợp 2 > Truyện phương tây
         Mục lục Chế độ đọc
Kiểu chữ
Kích cỡ chữ
Màu chữ
Màu nền
  Tự cuộn trang   Exit 

Chương 11

Thanh tra Colgate báo cáo với quận trưởng cảnh sát:

- Thưa sếp, có tin mới. Và li kì là đằng khác. Tôi đã làm việc với những người được ủy quyền quản lí tiền nong của bà Marshall. Họ cũng rất ngạc nhiên! Tôi có chứng cớ là bà ta bị tống tiền. Ông còn nhớ lão Erskine đã để lại gia tài cho bà ta, trị giá tới năm vạn livrơ? Thế mà nay bà ta không còn tới vạn rưỡi.

Cảnh sát trưởng huýt một tiếng sáo dài:

- Chà, thế thì tiền đi đâu?

- Ấy thế mới hay, thưa sếp. Từng thời gian đều đặn, bà ta rút tiền ra, mà lại lấy tiền mặt. Có nghĩa là tiền ấy được trao cho ai đó, mà bà ta muốn giấu không cho ai biết. Rõ ràng bị tống tiền rồi.

Đại tá Weston gật đầu.

- Có vẻ như thế. Và thằng cha tống tiền đang ở ngay đây, trong khách sạn này. Vậy là một trong ba người đàn ông mà ta đã nhắm. Ông có tìm được gì thêm về mấy người này không?

- Chưa có gì rõ ràng lắm. Thiếu tá Barry, như ông ta nói, là sĩ quan hưu trí. Ông ta ở một căn hộ nhỏ, lương hưu ít và có thêm thu nhập từ một vài cổ phiếu. Nhưng ông ta đã gửi những số tiền lớn vào tài khỏan hồi năm ngoái.

- Triển vọng đấy. Ông ta lí giải ra sao?

- Ông ta bảo thắng cá ngựa. Đúng là hắn luôn có mặt ở trường đua và đánh cá.

Weston sầm mặt:

- Thế thì cũng khó bác. Để rồi xem.

Colgate tiếp tục báo cáo:

- Đến Stephen Lane. Ông này không nói vòng vo. Đúng, ông ta đã từng là mục sư ở St Helen, quận Surrey. Ông ta bỏ áo chùng từ hơn một năm nay, vì lí do sức khỏe. Lí do sức khỏe ở đây phải hiểu là ở một năm trong bệnh viện tâm thần.

- Hay, hay - Weston gật gù.

- Tôi đã hỏi ông thầy thuốc điều trị ông ta, nhưng ông biết các lão lang băm rồi đấy - rất khó moi được cái gì cụ thể. Cuối cùng cũng biết đại khái ông cha có bệnh nhìn đâu cũng thấy Quỷ dữ, đặc biệt Quỷ dữ hiện hình vào đàn bà.

- Hừm - Weston nói. - Đó là loại ám ảnh rất dễ dẫn đến giết người điên loại. Đã từng có trường hợp như thế.

- Vâng. Vậy Stephen Lane có thể là một khả năng, không nên loại trừ. Bà Marshall tóc hung đỏ, thái độ nhố nhăng và phóng túng, dưới mắt ông cha mắc bệnh tâm thần này, đễ trở thành hiện thân của "người đàn bà tội lỗi", đáng cho xuống hỏa ngục, và ông ta tự cho trách nhiệm thiêng liêng của mình là phải thủ tiêu. Ấy là nói ông ta có bệnh thực.

- Thế thì lại không dính gì tới giả thuyết tống tiền?

- Vâng. Lane không dính chuyện này. Ông ta sống đạm bạc, không có thu nhập gì đột xuất mới đây.

- Còn những nơi ông ta đi hôm xảy ra án mạng, kiểm tra chưa?

- Rất khó xác định. Một thầy tu gặp giữa đường là chuyện bình thường, có ai để ý. Còn quyển sổ nhà thờ, thì chữ ký cuối cùng, trước ông ta, đã ký từ ba ngày trước, và không ai dám ngó lại. Vậy ông ta có thể ký từ hôm trước, thậm chí hôm trước nữa, mà vấn đề là ngày hai mươi lăm.

Weston gật đầu:

- Còn người thứ ba?

- Horace Blatt? Về ông này, rõ ràng có điều gì ám muội. Hắn ta đóng thuế lợi tức không thấm tháp gì so với cái cửa hàng kim khí bán buôn của hắn. Sự thực là từ nhiều năm nay, hắn gửi những món tiền lớn không rõ nguồn gốc. Nếu hỏi, chắc chắn có khối cách biến báo như thu nhập từ thị trường chứng khoán hoặc vài vụ làm ăn nào đó chẳng hạn.

- Tóm lại, tống tiền rất có thể là một nghề nữa của ngài Blatt?

- Hoặc tống tiền, hoặc ma túy. Nghe nói gần đây ma túy được đưa vào với khối lượng lớn. Cục chống ma túy theo dõi bọn bán lẻ và biết ít nhiều những kẻ nào ở đầu dây, song làm thế nào ma túy vào được nước Anh, họ chưa tìm ra.

- Nếu cái chết của bà Marshall có liên quan ít nhiều đến một đường dây buôn lậu ma túy - Weston lầu bầu - có lẽ ta phải chuyển vụ này lên trên thôi. Thẩm quyền của họ mà?

- Tôi e là phải như thế thôi - Colgate miễn cưỡng công nhận - Ma túy, là chuyện của cấp trên.

- Đúng - Weston kết luận sau vài giây suy nghĩ - Hướng điều tra phải xoay sang vấn đề ma túy thôi.

- Hẳn là vậy - Colgate nói... Marshall hoàn toàn vô can. Tiếc thật, nếu ông ta không có bằng chứng ngoại phạm vững như thế, thì tôi có một vài thông tin hay đây. Công ty của ông ta đang gặp khó khăn. Không phải do lỗi ông ta hay của các đồng sự, mà do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng năm ngoái và tình hình thương mại - tài chính nói chung. Tạm thời, ông ta có thể trông vào số tiền năm vạn livrơ nếu vợ chết. Năm vạn livrơ, thừa sức thoát khỏi phá sản!

Nói rồi, ông thở dài:

- Quả thật, một kẻ tình nghi có tới hai động cơ giá trị thế mà nay tuột khỏi tay, ngán quá.

Weston cười:

- Chưa nên nản vội. Ta đã làm xong đâu, vẫn còn cái động cơ tống tiền; lại còn tay mục sư điên điên gàn gàn nữa. Riêng tôi, nghiêng về giả thuyết ma túy. Nhưng nếu mà Marshall bị bọn buôn ma túy thủ tiêu, thì như vậy là chúng ta đã góp phần đắc lực giúp cấp trên. Đằng nào, thì ta cũng có công.

- Vâng, thế cũng được. Nhân tiện, tôi cũng đã hỏi dò về tác giả lá thư tìm thấy trong phòng bà ta. Cái tay ký J.N ấy. Không liên quan. Hắn ta đang ở Trung quốc, và hắn chính là cái tay mà cô Brewster đã nói. Một tên vô tích sự, lưu manh tập tọng. Tôi đã điểm tất cả các bạn trai khác của bà Marshall. Không thấy gì.

- Được rồi. Bây giờ ta phải quyết định - Weston kết luận - ý ông Poirot thế nào? Ông đã thông tin tất cả những điều vừa nói cho ông ta chưa?

Colgate mỉm cười đáp.

- Cái ông đó thật lạ. Ông có đoán được là hôm kia ông ấy hỏi gì tôi không? Hỏi về tất cả những trường hợp bị bóp cổ trong vòng ba năm qua.

Đại tá Weston dỏng tai:

- A, ông ấy yêu cầu thế? Dù sao, có thể…

Yên lặng một lát, đại tá tiếp:

- Ông nói cha Lane vào điều trị ở bệnh viện tâm thần thời gian nào?

- Năm ngoái, dịp lễ Phục sinh.

Weston cố gắng nhớ lại:

- Đúng là có một trường hợp ở Bagshot, tìm thấy xác, một phụ nữ trẻ. Bà ta đi đến nơi hẹn với chồng, nhưng chồng đợi mãi không thấy vợ tới. Rồi có cái vụ mà các báo gọi là "Bí ẩn của Bụi cây đơn độc"? Cả hai vụ xảy ra trong quận Surrey, nếu tôi nhớ không nhầm.

Hai người nhìn nhau. Colgate nói:

- Quận Surrey? Trời, có lẽ khớp! Tôi cũng có lúc ngờ ngợ...

***

Hercule Poirot ngồi trên cỏ, nơi đỉnh cao nhất của đảo.

Cách xa một chút về phía trái, là chỗ bắt đầu chiếc cầu thang sắt dẫn xuống vũng Yêu Tinh. Mấy tảng đá lớn che khuất không để ta trông thấy người nào định trèo xuống. Còn bãi cát, phần vách đá nhô ra cũng không cho ta nhìn thấy khắp.

Ông gật gật đầu hồi lâu.

Các mảnh ghép đã dần dần định hình. Ông lần lượt điểm lại chúng.

Một buổi sáng trên thềm nhà bên trên bãi tắm chính, vài phút trước cái chết của Arlena Marshall.

Một, hai, ba, bốn, năm nhận xét do năm người khác nhau phát ra.

Một ván bài bridge tối nọ. Patrick Redfern, Rosamond Darley và ông, Poirot, ngồi quanh bàn. Christine gác bài, đi ra cửa hóng gió, chợt nghe được một câu chuyện. Có ai khác ở dưới phòng khách lúc đó? Ai không có mặt?

Trước hôm xảy ra án mạng. Mẩu chuyện Poirot trao đổi với Christine sau bữa ăn, và cái cảnh ông chứng kiến lúc trở về khách sạn.

Gabrielle số tám.

Một cái kéo.

Một mẩu píp gẫy.

Một cái chai vứt qua cửa sổ.

Một quyển lịch mầu xanh lá cây.

Một gói nến.

Một tấm gương và chiếc máy chữ.

Một cuộn len đỏ tím.

Chiếc đồng hồ của cô bé.

Một bồn tắm rút nước.

Mỗi yếu tố rời rạc đó phải có chỗ đứng của nó. Không thể để trống.

Và khi các sự kiện cụ thể đã được đặt đúng chỗ rồi, sẽ chuyển sang giai đoạn tiếp theo: nghe theo linh tính, đánh hơi sự hiện diện của cái Ác trên đảo...

Ông nhìn xuống mấy tờ giấy đánh máy do Collgate đưa cho.

Nellie Parsons - phát hiện thấy xác bị bóp cổ trong khu rừng nhỏ gần Chobham. Không tìm thấy dấu hiệu gì. Hồ sơ khép lại.

Nellie Parsons?

Alice Corrigan.

Ông hết sức chú ý đọc đoạn nói về cái chết của Alice Corrigan.

***

Ở hốc Mặt Trời, Hercule Poirot ngồi trong hõm nhìn bao quát biển cả, và thấy thanh tra Colgate đi tới. Ông rất ưa viên thanh tra này, có cách làm việc nhẩn nha nhưng hiệu quả.

Colgate ngồi xuống, nhìn tờ giấy trong tay Poirot, hỏi:

- Có rút ra được gì không?

- Tôi đã nghiên cứu... Tốt.

Colgate đứng lên, đi vài bước sang cái hõm bên rồi quay lại:

- Cẩn thận vẫn hơn. Tôi không muốn ai nghe thấy.

- Rất đúng!

- Ông Poirot ạ, nếu ông không yêu cầu tôi, có lẽ tôi không để ý đến mối liên quan, nhưng bây giờ tôi rất quan tâm. Nhất là một trường hợp. Alice Corrigan?

- Phải, Alice Corrigan... Tôi đã đến gặp sở cảnh sát Surrey để hiểu thêm về vụ này.

- Kể cho tôi với. Rất tốt... ông làm việc rất tốt.

- Xác Alice Corrigan được tìm thấy ở một nơi gọi là Caesar, một khu rừng nhỏ, cách nơi thấy xác Nellie Parson chưa đầy mười lăm cây số. Cả hai nơi đều ở trong một bán kính cách Whiteridge hai mươi cây số. Mà Whiteridge lại là nơi cha Lane từng làm linh mục.

- Alice Corrigan bị hại sao?

- Lúc đầu, cảnh sát không thấy mối liên hệ với cái chết của Nellie Parson. Họ đều nghĩ anh chồng là thủ phạm. Tôi không rõ tại sao, có lẽ vì người ta không biết gì nhiều về hắn, hắn làm gì, từ đâu đến, vân vân, "con người bí ẩn" như các báo viết. Alice Corrigan lấy chồng bất chấp sự phản đối của bố mẹ. Cô ta có chút của cải, nên mua bảo hiểm về sinh mạng, nếu có sao thì anh chồng hưởng. Do đó anh ta bị nghi là đương nhiên.

Poirot gật đầu. Colgate tiếp:

- Nhưng đến khi điều tra kỹ hơn, hóa ra anh chồng hoàn toàn vô can. Người phát hiện ra xác chết là một phụ nữ chạy tập thể dục đi qua. Cô ta là giáo viên thể dục trường trung học Lancashire, lời chứng của cô ta là đáng tin cậy. Cô ấy nói rõ lúc tìm thấy xác là mười sáu giờ mười lăm. Nạn nhân chết chắc không quá mười phút, đó là lời cô ta khai. Điều đó được bác sĩ pháp y chấp nhận, ông này khám nghiệm tử thi lúc mười bẩy giờ bốn mươi lăm. Cô ta cẩn thận không đụng đến hiện trường và băng qua đồng chạy đến báo cảnh sát Bagshot. Mà, từ ba giờ đến bốn giờ mười phút buổi chiều, Edward Corrigan đang ngồi xe lửa từ London về, anh ta lên đấy có việc. Xuống ga, anh ta đi xe buýt với hai đồng hành, xuống quán cà phê Cây thông, anh ta hẹn vợ ở đó. Lúc ấy là bốn giờ hai mươi lăm. Anh ta gọi sẵn hai tách trà, nhưng dặn chỉ mang ra khi vợ tới. Trong lúc chờ đợi, anh ta đi đi lại lại bên ngoài. Đến năm giờ, không thấy vợ đến, anh bắt đầu lo - sợ có tai nạn gì dọc đường chăng. Vì theo như hẹn, vợ anh đi bộ đến, dự định sau đó hai người cùng về bằng xe buýt. Caesar ở không xa quán cà phê, anh ta nghĩ có lẽ vợ đi sớm, nên ngồi nghỉ chỗ nào đó rồi bị bọn lưu manh tấn công. Một khi không phải là anh chồng, người ta mới liên hệ vụ này với vụ cô hầu Nellie Parson bị bóp cổ chết ở Marley. Cảnh sát cho rằng thủ phạm hai vụ này chỉ là một. Nhưng không tóm được ai. Không những thế, mà không có dấu hiệu gì để có thể lần ra manh mối. Tóm lại, trắng tay.

Nghỉ một lát, Colgate tiếp:

- Và bây giờ, lại một phụ nữ thứ ba bị bóp cổ, mà ta cũng chưa biết thủ phạm là ai!

Nói xong, ông chú ý nhìn Poirot, chờ xem ông nói sao.

Môi Poirot mấp máy. Colgate dỏng tai nghe.

- ... thật khó biết mảnh nào là thảm, mảnh nào là đuôi mèo...

- Xin lỗi, ông bảo sao? - Colgate kinh ngạc, hỏi.

- Tôi thành thật xin lỗi - Poirot vội nói. - Tôi đang mải nghĩ.

- Sao lại có thảm với mèo?

- Không... không có gì… à ông thanh tra, nếu ông ngờ người nào nói dối, nói dối liên tục, mà mình không chứng minh được, ông làm thế nào?

Colgate nghĩ:

- Khó đấy. Song tôi nghĩ kẻ nào nói dối nhiều quá, thì thế nào cũng có lúc lẫn lộn, rồi lòi đuôi.

Poirot gật gù:

- Đúng, ông nói đúng. Tuy nhiên, tôi tin rằng họ tìm cách xỏ mũi tôi, mà tôi lại không biết. Ô! Có lẽ phải làm một trắc nghiệm về một chi tiết nào đó. Và nếu chi tiết đó là dối trá, thì chắc những lời nói khác cũng thế.

Colgate tò mò nhìn Poirot:

- Cái cách ông nghĩ thật kì cục, nhưng dù sao phải công nhận là hay, dẫn đến kết quả. Tôi tò mò một chút, tại sao ông nẩy ra ý nghĩ hỏi tôi về những trường hợp bị bóp cổ gần đây?

- Tôi có cảm nghĩ rằng đây là một tội ác làm rất khéo. Từ đó, suy ra: hung thủ không phải lần này là lần đầu tiến hành.

- Ra thế!

- Vì thế tôi mới nghĩ: hãy xem xét những vụ án cùng loại trong mấy năm gần đây, nếu có vụ nào gần giống vụ này, ắt sẽ có được manh mối quý giá...

- Nói "vụ án cùng loại", ông ám chi đến cách giết của hung thủ?

- Không, không, hơn thế cơ. Từ vụ Nellie Parson, không rút ra được điều gì. Nhưng trường hợp Alice Corrigan... ông không thấy giống hệt vụ Marshall sao?

Collgate suy nghĩ hơi lâu, mãi mới đáp:

- Không, tôi không thấy. Có điều là, cả hai trường hợp, anh chồng đều có bằng chứng ngoại phạm không bắt bẻ vào đâu.

- A, - Poirot nhẹ nhàng nói, - ông cũng nhận ra điều ấy?

***

- Ha! Poirot. Rất mừng gặp ông. Mời vào. Đúng lúc tôi cần ông.

Hercule Poirot không mong gì hơn được tiếp đón như vậy.

Viên quận trưởng cảnh sát đẩy hộp thuốc trên bàn, cầm một điếu và châm lửa. Thở khói lên trần, ông nói:

- Tôi đã phần nào quyết định. Nhưng muốn hỏi ý kiến ông đã.

- Tôi xin nghe.

- Tôi quyết định báo cáo lên Cục và chuyển hồ sơ cho họ. Theo tôi, nếu có thể buộc tội một, hai người nào, thì chắc chắn xoay quanh việc buôn ma túy. Các động Yêu Tinh là chỗ giấu hàng, điều đó đã rõ như ban ngày.

Poirot gật đầu:

- Đồng ý.

- Và tôi không nghi ngờ gì nữa về tên buôn lậu: Hórace Blatt.

Poirot lại gật đầu:

- Điều đó, tôi cũng đồng ý.

- Thế là chúng ta rất hiểu nhau. Blatt thường ra biển bằng thuyền buồm. Thỉnh thoảng có mời người cùng đi, nhưng chúng tôi đã tìm thấy dưới đáy thuyền có cả buồm trắng. Tôi cho là, theo lịch đã hẹn trước, hắn cho thuyền đến nơi nào đó, sẽ có tầu khác - thuyền du lịch hay thuyền máy - cập mạn, và hàng được trao tay. Rồi Blatt ghé vào vũng Yêu Tinh vào lúc thích hợp...

- Phải, phải, lúc một giờ ba mươi phút trưa chẳng hạn - Poirot tiếp lời, lúc đó mọi người đều xúm xít quanh bàn ăn. Khách du lịch thì không đi pích- ních trong vũng Yêu Tinh. Nếu đi, họ đi xa hơn, tận đồng quê cơ.

Đại tá nhất trí:

- Đúng. Vậy Blatt dong thuyền buồm vào, cất hàng trên cái gờ trong động, rồi sẽ có người đến mang đi.

Mặt Poirot sáng lên:

- Ông nhớ không? Hôm xảy ra án mạng, có một cặp vợ chồng đến khách sạn hỏi ăn. Có thể là đến để nhận hàng. Nhiều khách trọ trong đất liền thỉnh thoảng đến ăn trên đảo. Họ đặt sẵn bàn ăn ở Jolli Roger, rồi đi chơi quanh đảo. Còn gì dễ hơn là từ đó xuống vũng, lấy hộp xăng-đuých, bỏ vào túi du lịch của quý bà chẳng hạn, rồi quay về dùng bữa ở khách sạn, về hơi muộn một chút - ví dụ vào khoảng hai giờ kém mười - lúc mọi người đều tập trung ở phòng ăn?

Weston tỏ ý tán đồng:

- Phải rồi, làm như vậy không khó. Còn nếu gặp khó khăn gì, thì dân buôn ma túy đâu phải là bọn hiền lành. Chẳng may gặp ai vô phúc lảng vảng ở đó, có nguy cơ bị lộ, bọn chúng chắc không thiếu thủ đoạn, nếu cần "thịt" ngay. Cách duy nhất giải thích cái chết của Arlena Marshall là như thế. Sáng hôm đó, hẳn Blatt đang giấu hàng ở đó để chờ người đến lấy đi. Arlena Marshall bơi thuyền tới, trông thấy hắn đi vào hang, hỏi một câu dại dột nào đó, thế là hấp, hắn bóp chết, rồi dong buồm chuồn.

- Ông tin Blatt là hung thủ?

- Lí giải như vậy là hợp lí nhất. Cũng có thể Arlena đã biết từ trước, vô ý nói với Blatt thế nào đó, và thế là một tên trong bọn mạo danh hẹn bà ta đến để thủ tiêu. Tóm lại, tôi phải chuyển vụ này lên Cục, họ có điều kiện hơn để nhìn toàn cảnh, xác định mối liên hệ giữa Blatt với các băng nhóm khác.

Hercule Poirot ngồi yên, vẻ phân vận.

- Ông đồng ý không? - Weston hỏi. - Cách ấy là đúng nhất.

Tâm trí Poirot như để ở đâu đâu. Cuối cùng mới đáp:

- Có thể.

- Nào nào, ông còn có ý khác, phải không?

- Dù thế nào đi nữa, tôi chưa thể nói, vì chưa có bằng chứng.

- Thôi đi! Tôi thừa biết ông và Colgate có ý kiến hơi khác. Nhưng dù thế nào đi nữa, tôi vẫn cho việc này thuộc thẩm quyền của Cục. Ta chuyển hồ sơ cho họ, họ sẽ hợp tác với cảnh sát Surrey điều tra lại từ đầu. Việc này vượt quá tầm của quận chúng tôi.

Weston ngừng nói, nhìn Poirot rồi lại tiếp:

- Ý ông thế nào? Ông nghĩ chúng tôi nên làm gì?

- Tôi biết cái tôi muốn làm gì, thì đúng hơn.

- Vậy ông muốn làm gì?

Poirot nói rất nhỏ:

- Tôi muốn tổ chức một cuộc du ngoạn.

Đại tá Weston há hốc mồm, không hiểu.
         Mục lục Chế độ đọc
Chia sẻ truyện Kì nghỉ hè của Poirot - chương 14 tới bạn bè để mọi người cùng đọc nhé !
Bình luận truyện Kì nghỉ hè của Poirot
loadingĐang cập nhật phản hồi
Đăng nhập để bình luận !
Các bạn đang đọc truyện Kì nghỉ hè của Poirot - chương 14. Chúc các bạn đọc truyện vui vẻ !
lên đầu trang truyện
0.21567606926 sec