Istanbul - Hồi Ức Và Thành PhốIstanbul - Hồi Ức Và Thành Phố - chương 14

Chương 14Tải chương
Truyện tổng hợp 2 > Truyện phương đông
         Mục lục Chế độ đọc
Kiểu chữ
Kích cỡ chữ
Màu chữ
Màu nền
  Tự cuộn trang   Exit 

Chương 13 - Vui buồn lớp học


Điều đầu tiên tôi học được ở trường là một số người thì ngu ngốc; điều thứ nhì tôi học được là có một số người thậm ngu ngốc. Tôi còn quá nhỏ nên không làm sao hiểu được rằng những người có giáo dục cần làm ra vẻ không để ý đến khác biệt mang tính nền tảng này, và cũng một cách xử sự lịch thiệp như vậy cần được áp dụng cho một số vấn đề liên quan tới tôn giáo, chủng tộc, giới tính, giai cấp, tài chánh, và (gần đây nhất) sự khác biệt về văn hóa. Vì còn ngây thơ, mỗi lần cô giáo đưa ra một câu hỏi, là tôi giơ tay xin trả lời, để chứng tỏ tôi rành câu trả lời.

Sau vài tháng như vậy, cô giáo và bạn đồng học hẳn đều đã mơ hồ nhận thức được rằng tôi là một học trò giỏi, nhưng tôi vẫn luôn luôn cảm thấy mình cần phải giơ tay. Giờ đây rất hiếm khi cô giáo gọi tôi trả lời, mà dành cơ hội cho những đứa khác được nói. Tay tôi cứ tiếp tục giơ lên ngay cả khi chính tôi cũng không định làm thế dù cho có biết câu trả lời hay không. Như một người ăn vận bình thường hãnh diện khoe một món nữ trang lòe loẹt, chuyện tôi tiếp tục giơ tay còn là do tôi ngưỡng mộ cô giáo, và lúc nào cũng muốn được hợp tác với cô.

Một điều khác nữa mà tôi sung sướng khám phá ra khi cắp sách tới trường, đó là “uy quyền” của cô giáo. Ở nhà, trong Nhà Pamuk lúc nào cũng đông người, mất trật tự, mọi chuyện chẳng bao giờ rõ ràng; tại bàn ăn đông đảo của chúng tôi ai cũng nói, cùng một lúc. Đủ thứ chuyện, chuyện thường ngày như mọi ngày, chuyện chúng tôi yêu thương nhau, và muốn chia sẻ đủ thứ chuyện cho nhau nghe, chuyện bữa ăn, chuyện nghe đài – không phải những chuyện lôi ra để bàn bạc; chúng chỉ cứ thế xảy ra thôi. Cha tôi chỉ có tí chút quyền uy ở trong gia đình, mà ông thì thường xuyên vắng mặt. Ông không bao giờ la anh tôi hay tôi, cũng chẳng bao giờ nhíu mày tỏ sự bất bình. Những năm sau này, ông thường giới thiệu hai đứa chúng tôi cho bạn bè ông như là “hai đứa em trai của tôi,” và chúng tôi cảm thấy ông đã giành được quyền để nói như vậy. Mẹ tôi là uy quyền độc nhất mà tôi nhận ra ở trong gia đình. Nhưng đây không phải là một thứ uy quyền xa lạ, hay theo kiểu bạo chúa: Quyền năng của mẹ tôi là do lòng ước mong được mẹ yêu thương của chúng tôi. Và cũng như vậy, tôi bị mê hoặc bởi quyền uy của cô giáo lên hai mươi lăm đứa học trò chúng tôi.

Có lẽ niềm ao ước không bao giờ nhàm chán của tôi đối với cô giáo của mình là do tôi có chút đồng hóa cô với mẹ tôi, và lúc nào cũng mong được cô bảo bọc. “TlKhoanh tay lại như thế này, rồi ngồi yên lặng,” cô giáo ra lệnh, và thế tôi để tay lên ngực, cứ thế ngồi yên lặng suốt giờ học. Nhưng dần dần, chẳng còn gì hấp dẫn khi giơ tay trả lời bất cứ một câu hỏi nào, hay giải bất cứ một bài toán trước cả lớp, được điểm cao nhất lớp, và thời gian bắt đầu chậm chạp trôi đi, hay ngừng trôi luôn. 

Mắt tôi rời đứa con gái lúc nào cũng cười một cách lạc quan với cô giáo, bạn học, người trợ giáo, và với cả thế giới – mà cũng là một đứa con gái ý nhị, tươi cười và thánh thiện – và rời khỏi thằng học sinh tròn ủng đầu óc ngớ ngẩn đang cố công viết gì đó lên bảng, rồi nhìn ra phía cửa sổ lên những tàng lá cây hạt dẻ trên cao, cái cây mọc lên giữa các tòa nhà. Một con quạ đậu trên một cành cây. Bởi vì đang từ dưới nhìn lên, tôi có thể thấy một đám mây nhỏ bay ở đằng sau nó, cụm mây này liên tục thay đổi hình dạng: khi thì là cái mũi một con chồn, rồi một cái đầu, rồi thì một con chó. Tôi không muốn nó ngưng không còn là một con chó, nhưng làm sao cấm nó chuyển dịch, và thế là nó tiếp tục thay đổi và biến thành một trong những cái bình đựng đường bằng bạc có bốn chân mà bà tôi trưng bày trong một cái tủ luôn luôn khóa, và thế là tôi ao ước giá mà lúc này mình đang ở nhà. Và khi tôi đã yên vị ở nhà, trong sự yên lặng thật là an tâm của những cái bóng trong căn nhà, khi đó cha tôi từ trong những khoảng tối đó xuất hiện, như từ trong một giấc mơ và chúng tôi sẽ làm một chuyến đi Bosphorus cùng toàn thể gia đình. Đúng lúc đó, một cửa sổ tòa nhà đối diện trường bật mở, một cô người làm cầm cây chổi rũ bụi, và đưa mắt lơ đãng nhìn xuống con phố, từ chỗ tôi ngồi không thể nhìn thấy có chuyện gì đang xảy ra ở dưới đó. Chuyện gì xảy ra nhỉ? Tôi tự hỏi. Tôi nghe tiếng xe ngựa chạy trên đường sỏi, và một giọng the thé vang lên tiếng rao hàng, “Eskiciiiiii!,” và người tớ gái tiếp tục theo dõi người mua bán đồng nát chạy xe tới cuối phố, rồi quay đầu vô, đóng cửa sổ. Rồi ngay kế bên cửa sổ ấy, tôi nhìn thấy cụm mây thứ nhì, chuyển động thật nhanh chẳng khác gì cụm mây thứ nhất, nhưng theo chiều ngược lại. Tới lúc này thì sự chú ý của tôi quay trở lại với lớp học, và nhìn thấy tất cả học sinh đều giơ tay, thế là tôi cũng giơ tay: Từ trước đó tôi đã theo dõi, và thật rành rẽ mọi câu trả lời của cả lớp, về những điều mà cô giáo hỏi, cho nên, tôi thật tự tin là mình biết rõ câu trả lời, tuy không hề biết câu hỏi ra sao.

Thật hấp dẫn, tuy đôi lúc thật đau buồn khi biết riêng lẻ từng đứa bạn học cùng lớp và rằng chúng thật khác tôi. Trong lớp có một đứa trẻ buồn hiu, mỗi lần bị cô giáo kêu đọc bài trong giờ Thổ văn là nó luôn luôn đọc nhảy dòng; cái tật này của đứa bé thì cũng tự nhiên như là tiếng cười của cả lớp tiếp liền theo sau, mỗi lần nó đọc nhảy hàng. Năm học lớp nhất, có một đứa con gái tóc đỏ buộc đuôi ngựa ngồi kế bên tôi một thời gian. Mặc dù cặp sách của nó là một mớ hầm bà làng trông thật ớn, nào là mấy trái táo ngoạm một nửa, nào là simit , những hột mè hột vừng, những cây bút chì, mấy băng vải buộc tóc, con bé luôn toát ra mùi oải hương thật dễ chịu, và nó làm tôi bị quyến rũ. Tôi còn mê cái tài nói huỵch toẹt về những thứ cấm kỵ nho nhỏ của cuộc sống hằng ngày, và nếu cuối tuần không thấy nó là tôi cảm thấy nhớ dù ngoài nó ra còn một đứa con gái khác, gọn gàng hơn, và thật mặn mà, và tôi cũng thật quyến luyến cô bé. Tại làm sao đứa con trai đó nói toàn chuyện dối trá mà nó biết chẳng ai tin? Làm sao đứa con gái thật vô tâm, chẳng giấu giếm mọi chuyện xảy ra trong gia đình? Và làm sao đứa con gái khác kia lại chảy nước mắt khi đọc cái bài thơ về Atatürk ấy?

Do có thói quen hay nhìn vào cửa kính trước xe hơi coi mặt mũi những người ngồi bên trong, tôi cũng hay quan sát tỉ mỉ các bạn học, và tìm kiếm những con vật hao hao giống đứa này, đứa nọ. Đứa con trai với cái mũi nhọn là con cáo, và đứa ngồi gần nó, tướng tá to lớn nên cả lớp gọi là con gấu, còn đứa có mớ tóc dày thì có tên là con nhím… Tôi còn nhớ một đứa con gái Do Thái tên là Mari nói cho chúng tôi nghe về lễ Quá hải; vào những ngày lễ đó, không một ai trong nhà của bà nó được phép sờ vô những cái nút bật đèn. Một đứa con gái khác kể chuyện một buổi tối khi vô phòng, nó quay người thật nhanh để nhìn khắp căn phòng và thấy thấp thoáng bóng dáng một vị thiên thần – câu chuyện dáng sợ này sau đó cứ ám lấy tôi. Có một đứa con gái, chân thật dài, nó mang tất thật dài, và trông lúc nào cũng như sắp sửa khóc; cha nó là một vị bộ trưởng, và khi ông ta mất trong một tai nạn máy bay, cùng chuyến với Thủ tướng Menderes nhưng ông này không hề hấn gì, tôi chắc chắn cô bé khóc là vì biết trước chuyện gì sẽ xảy ra. Rất nhiều trẻ con bị hư răng; một số phải mang niềng răng. Trên tầng chót cùa tòa nhà nơi có ký túc và phòng thể dục, nghe nói ở đó có một nha sĩ, văn phòng của người này ở kế bên phòng y tế; và các thầy cô giáo, mỗi lần giận dữ, thường dọa trò nào hư quá sẽ gửi lên cho ông nha sĩ trừng trị. Hư vừa vừa thì bị phạt đứng tại góc lớp học, giữa bảng đen và cửa ra vào, quay lưng vô lớp học, đôi khi phải đứng lò cò, nhưng bởi vì tất cả chúng tôi đều tò mò không hiểu đứng một chân như vậy thì sẽ chịu đựng được bao lâu, thành thử giờ học bị ảnh hưởng, nên hình phạt này cũng ít khi xảy ra.

Trong các hồi ký của mình, Falaka và Đêm , Ahmet Rasim viết khá dài về những ngày ông đi học, trước đây một thế kỷ, khi đó, mấy ông thầy tại các trường học Ottoman có những sợi roi dài đến nỗi họ có thể quất học trò mà không cần phải rời ghế ngồi; thầy cô của chúng tôi vẫn thường khuyến khích học trò đọc những cuốn sách này, có lẽ để chúng tôi thấy rằng mình bây giờ may mắn hơn ngày trước rất nhiều, không phải trải qua thời kỳ tiền-Cộng hòa, tiền– Ataturk, kỷ nguyên của falaka . Nhưng ngay cả ở khu giàu có Nisantasi, trong những trường học được cung cấp đầy đủ như Isik Lycée, những ông thầy già đã từng dạy học từ thời Ottoman vẫn tìm được trong các cải tiến “hiện đại” những công cụ mới để đàn áp những đứa trẻ yếu ớt và vô phương chống đỡ: Những cái thước kẻ sản xuất tại Pháp của chúng tôi, và đặc biệt là những sợi mica mỏng, nặng được lồng vào hai bên chiếc thước kẻ, chúng hiệu nghiệm chẳng thua gì hình phạt falaka và chiếc roi dài.

Nói gì thì nói, bản thân tôi, thú thực cảm thấy thích thú khi nhìn thấy một người nào đó bị trừng phạt, do lười biếng, do không có văn hóa, ngu si, và vô lễ. Tôi thật thú khi trừng phạt được áp dụng cho một đứa con gái hoạt bát, đi học bằng xe hơi có tài xế riêng; được cô giáo cưng, lúc nào cũng đứng trước chúng tôi hát bằng cái giọng khàn khàn bài “Jingle Bells” bằng tiếng Anh, nhưng điều này cũng không giúp được gì nhiều cho nó khi nó phạm lỗi chểnh mảng làm bài tập ở nhà. Luôn luôn có một số ít học sinh không làm bài tập ở nhà nhưng lại Iàm ra vẻ đã làm rồi, nó ở đâu đó trong những cuốn bài tập của chúng, và nếu cô giáo đừng hối, thế nào chúng cũng sẽ tìm ra. Chúng la lên, “Con không thể tìm thấy nó, ngay lúc này, thưa cô!” chỉ để câu giờ, để trì hoãn vài giây cái chuyện không thể không xảy ra, nhưng việc đó chỉ làm cho cô giáo tức giận thêm lên, cho chúng một cái bợp, hay véo tai chúng mạnh hơn nữa.

Khi chúng tôi chuyển dịch theo năm tháng từ những cô giáo ngọt ngào, hiền từ như những bà mẹ của những năm đầu tiên tới trường, đến những ông thầy cáu kỉnh, già nua, chua chát, dạy chúng tôi các môn như tôn giáo, âm nhạc, thể dục ở các lớp trên, những nghi lễ của sự nhục mạ trở nên tỉ mỉ hơn, và có những giờ học nhàm chán đến nỗi tôi đâm ra thoải mái thưởng thức vài phút những màn trừng phạt của thầy lên bạn đồng học.

Có một cô gái tôi rất thích, nhưng chỉ dám đứng xa nhìn, cô bé rất gọn gàng và hấp dẫn, hoặc có lẽ là vì cô thật là mỏng manh – khi cô bị cô giáo cho ăn đòn, nước mắt của cô đổ ra, mặt cô đỏ ửng, tôi thật muốn chạy lên giải cứu cô. Khi đứa con trai mập, tóc hung, chuyên bắt nạt tôi trong giờ ra chơi, bị bắt gặp nói chuyện trong giờ học, và bị đòn, tôi lạnh lùng, thích thú nhìn. Còn một đứa con trai, thật là quá ngu si đần độn – mỗi lần bị trừng phạt, cho dù nặng nề cỡ nó cũng cưỡng lại. Có một số thầy cô khi gọi học trò lên bảng thì không phải để kiểm nghiệm sự hiểu biết, mà là sự đần độn, và trong số những đứa đần độn như thế, có một số có vẻ như thích bị làm nhục. Những ông thầy khác lại rất bực khi nhìn thấy một cuốn vở ghi được bọc bằng một tờ giấy không đúng màu, lại có những ông thầy lại tỏ ra hết sức giận dữ vì một cái lỗi không đâu của học trò, thí dụ như đánh một đứa bé vì tội nói thầm. Một số học trò, tuy trả lời đúng những câu hỏi thật dễ, nhưng nghệch ra vì sợ hãi; một số khác – tôi phục nhất những học trò như vậy – khi không biết câu trả lời, bèn nói với ông thầy bất cứ chuyện gì mà chúng biết, hy vọng như vậy sẽ thoát được.

Tôi quan sát những xen như vậy – trước tiên là sự quở trách, rồi tới màn tức giận quăng sách vở xuống sàn lớp, trong khi đám học trò còn lại ngồi im lặng như tờ – và cảm ơn trời mình không phải là người bị làm nhục nhã xấu hổ. Tôi chia sẻ niềm may mắn đó với một phần ba học sinh trong lớp. Nếu đây là một ngôi trường dành cho học sinh đủ mọi thành phần, thì cái ranh giới phân chia những đứa may mắn sang một bên hẳn sẽ rõ rệt hơn nhiều, nhưng đây lại là một trường tư, tất cả học sinh đều xuất thân từ các gia đình khá giả. Trong sân trường vào giờ ra chơi, chúng tôi chơi cùng nhau, lằn ranh phân biệt không còn, nhưng bất cứ khi nào thấy cảnh học sinh bị đánh đập, nhục mạ, là tôi thấy mình ngồi vào cái ghế ghê tởm đáng sợ của người thầy giáo, và tự hỏi chính mình, tại sao lại có một số học sinh lười biếng, không biết tự trọng, đáng khinh, yếu đuối và thờ ơ, hay không có một chút đầu óc như thế? Chẳng hề có câu trả lời cho những câu hỏi u ám về đạo đức như vậy ở trong những cuốn truyện tranh mà tôi khởi sự đọc, các nhật tà ma ác quỷ luôn luôn được vẽ với cái vẻ gớm ghiếc, miệng méo xệch. Cũng chẳng thể nào kiếm thấy câu trả lời trong cái miền u tối của trái tim thời thơ ấu của tôi, và tôi đành để cho những câu hỏi như vậy nhạt nhòa dần đi cùng năm tháng. Tôi nhận ra một điều, cái nơi chốn mà chúng ta gọi là trường học đó không hề góp phần trả lời cho những câu hỏi sâu thẳm của cuộc đời; mà thực ra, nhiệm vụ của trường học là sửa soạn cho chúng ta bước vô “đời thực” trong tất cả cái tàn nhẫn mang tính chính trị của nó. Và thế là, cho đến khi tới trung học, tôi tự chọn cho mình cái việc giơ tay, và giữ mình làm sao cho thật an toàn, ở phía bên có lợi của lằn ranh. Tuy nhiên tôi cảm thấy điều chính mà tôi học được ở trường là chấp nhận những sự thực về cuộc đời không cần tra hỏi thì vẫn chưa đủ; bạn còn phải choáng ngợp vì những vẻ đẹp của chúng nữa. Những năm học đầu tiên, thầy cô nếu có dịp là ngưng ngay việc dạy chữ để dạy chúng tôi một bài hát. Tôi máy miệng theo những từ của các bài hát tiếng Anh và tiếng Pháp mà không hiểu và không thích, nhưng tôi thích nhìn các bạn học của tôi. (Chúng tôi hát những bài mà dịch sang tiếng Thổ có nghĩa: “Này người gác cổng, này người gác cổng, bữa nay là ngày lễ, hãy thổi còi”) Đứa con trai lùn mập mới nửa giờ trước khóc lóc vì bỏ quên tập ở nhà, lúc này say sưa hát, miệng cố mở thật rộng. Đứa con gái lúc nào cũng vén mớ tóc dài ra phía sau tai, lúc này cũng hết còn bận tâm vì mớ tóc của nó. Thằng mập chuyên bắt nạt tôi trong giờ ra chơi, và luôn cả thằng đàn anh độc ác đứng bên cạnh nó, cái thằng hiểu rất rành về lằn ranh vô hình mà tôi đã nói tới, và luôn chọn đứng về phía bên có lợi – ngay cả những tên đó, vào lúc này cũng đều như biến thành thiên thần, và để cho âm nhạc lôi cuốn. Ở lưng chừng bài hát, đứa con gái ngăn nắp sẽ quay qua kiểm tra mấy hộp bút chì, cuốn tập của nó, cho chắc ăn. Đứa con gái khôn ngoan, hay làm, tôi thường yêu cầu sắp hàng kế bên tôi khi trở lại lớp học sau giờ ra chơi, cô bé sẽ lặng lẽ đưa tay cho tôi cầm – mặc dù cô bé đã hát đến kiệt hơi sức, và thằng bé mập, tính tình keo kiệt, tay lúc nào cũng vòng che kín tờ giấy, như thể đang nâng niu một đứa bé con, để cho không ai có thể nhìn thấy, và cọp bài làm của nó, ngay cả nó, giờ này cũng thả hai tay. Ngay cả tên quỷ sứ ngày nào không dánh người là không thể chịu nổi, giờ này cũng gia nhập ban hát, và hát một cách hết sức là cởi mở, hân hoan. Khi tôi nhận ra là đứa con gái tóc đỏ hoe cột đuôi ngựa cũng nhận ra điều đó, chúng tôi bèn nhìn vào mắt nhau và vừa mỉm cười vừa hát. Tôi không hiểu lời bài hát, nhưng mỗi lần tới khúc la la la là tôi cũng nhập vô, hát thật lớn, và khi ra bên ngoài cửa sổ, tôi cảm thấy như mình bay bổng vào tương lai. Trong một thoáng chốc, tiếng chuông sẽ reo vang, cả lớp học vỡ òa ra; tôi sẽ chạy ra khỏi lớp cùng cái cặp sách của mình, và thấy người quản gia đang chờ; và tôi sẽ cầm lấy bàn tay to đùng của người quản gia và cùng anh tôi, chúng tôi đi bộ về nhà, về đến nhà cách trường chừng ba phút, tôi sẽ mệt lử chẳng còn nhớ gì tới ai ở lớp học nữa, tôi sẽ rảo bước vì nghĩ rằng sẽ gặp lại mẹ tôi liền tức thì.
         Mục lục Chế độ đọc
Chia sẻ truyện Istanbul - Hồi Ức Và Thành Phố - chương 14 tới bạn bè để mọi người cùng đọc nhé !
Bình luận truyện Istanbul - Hồi Ức Và Thành Phố
loadingĐang cập nhật phản hồi
Đăng nhập để bình luận !
Các bạn đang đọc truyện Istanbul - Hồi Ức Và Thành Phố - chương 14. Chúc các bạn đọc truyện vui vẻ !
lên đầu trang truyện
0.22434592247 sec