Dưới Ánh Sao ThuDưới Ánh Sao Thu - chương 35

Chương 35Tải chương
Truyện tổng hợp > Xuất bản
     Mục lục Chế độ đọc
Kiểu chữ
Kích cỡ chữ
Màu chữ
Màu nền
  Tự cuộn trang   Exit 
XXXIV

Tôi lê bước tới đường Raadhusgaten, và đứng một hồi cạnh trạm xe ngựa, quan sát lối vào khách sạn Victoria. Nhưng dĩ nhiên nàng đã ra ngoài thăm mấy người bạn. Tôi nhắm mắt đưa chân vào khách sạn, nói chuyện với người gác cửa.

Phải, Fruen đang ở trong phòng số 12, tầng một.

Vậy bà ta không ra ngoài thăm bạn sao?

Không.

Có phải bà ta chỉ ra ngoài chốc lát không?

Fruen không hề nói thế.

Tôi lại bước ra đường; những người đánh xe vung vẫy những tấm da phủ chân, mời mọc tôi hạ cố. Tôi chọn một cỗ xe và trèo vào.

“Tới đâu ạ?”

“Cứ ở yên tại chỗ. Tôi thuê anh theo giờ.”

Những gã đánh xe đi quanh xì xào, kẻ bàn thế này, người tán thế kia: ông ta đang theo dõi khách sạn; ra ngoài để bắt ghen vợ ông ta đang hẹn hò với một thương gia đi du lịch nào đó.

Phải, tôi đang theo dõi chỗ này. Có ánh đèn trong một hai căn phòng, và đột nhiên tôi chợt nghĩ ra rằng có thể nàng đang đứng ở một ô cửa sổ và trông thấy tôi. “Chờ chút,” tôi nói với người đánh xe, và lại đi vào khách sạn.

“Phòng số 12 ở đâu?”

“Tầng một.”

“Nhìn ra đường Raadhusgaten phải không?”

“Vâng.”

“Vậy đó phải là em gái của tôi,” tôi nói, bịa đặt đôi điều để chuồn qua người gác cửa.

Tôi đi lên cầu thang, và để không cho mình có cơ hội quay lại, tôi gõ cửa ngay khoảnh khắc tôi nhìn thấy con số. Không trả lời. Tôi gõ lần nữa.

“Có phải hầu phòng không?” từ trong phát ra một giọng nói.

Tôi không thể đáp phải; giọng tôi sẽ phản bội tôi. Tôi thử xoay nắm cửa – cửa đã bị khóa. Có lẽ nàng e rằng tôi có thể tới; có thể nàng đã nhìn thấy tôi ở bên ngoài.

“Không, đây không phải là người hầu phòng,” tôi nói, và tôi có thể nghe những từ run rẩy một cách lạ lùng ra sao.

Sau đó tôi đứng lắng nghe hồi lâu; tôi có thể nghe tiếng ai đó di chuyển bên trong, nhưng cửa vẫn đóng. Rồi có hai hồi chuông ngắn từ một trong những căn phòng dưới sảnh. Hẳn đó là nàng, tôi tự nhủ; nàng đang cảm thấy khó chịu, và đã ấn chuông gọi người hầu phòng. Tôi bước xa khỏi cửa, để tránh bất kỳ sự lúng túng nào cho nàng, và, khi người hầu phòng tới, tôi bước ngang qua như thể đang đi xuống thang. Lúc ấy người hầu phòng nói, “Phải, hầu phòng đây,” và cửa mở.

“Không, không,” người hầu phòng nói; “chỉ có một quý ông đang xuống thang.”

Tôi nghĩ tới việc lấy một phòng ở khách sạn, nhưng ý tưởng này khiến tôi khó chịu; nàng không phải là một bà vợ bỏ trốn để hẹn hò với những thương gia đi du lịch. Khi xuống tới dưới, tôi nhận xét với người gác cửa rằng hình như Fruen đang nằm nghỉ.

Sau đó tôi bước ra ngoài và lại chui vào xe. Thời gian trôi qua, cả một giờ; người đánh xe muốn biết tôi có thấy lạnh không? Ờ, có, chút xíu. Tôi đang chờ ai đó hay sao? Phải… Anh ta đưa cho tôi tấm chăn cất trong thùng xe, và tôi boa cho anh ta tiền đủ để mua một ly rượu vì sự chu đáo đó.

Thời gian tiếp tục trôi; giờ này sang giờ khác. Lúc này những người đánh xe trò chuyện không chút úp mở, nói thẳng với nhau rằng tôi đang khiến cho lũ ngựa lạnh cóng cho tới chết.

Không, việc này không hay ho chút nào. Tôi trả tiền cho người đánh xe, trở về nhà, và viết lá thư sau:

“Cô không cho phép tôi viết cho cô; cô có cho phép tôi được gặp cô lần nữa hay không? Tôi sẽ ghé thăm cô ở khách sạn lúc năm giờ chiều mai.”

Tôi có nên xác định một thời điểm sớm hơn? Nhưng ánh sáng buổi sáng quá tỏ; nếu tôi xúc động và miệng tôi bị co giật, có thể trông tôi sẽ rất đáng sợ.

Tôi mang lá thư tới khách sạn rồi lại trở về nhà.

Một đêm dài – ôi, những giờ đó mới dài làm sao! Khi tôi nên ngủ, thả lỏng thân người và nghỉ ngơi thư giãn, tôi lại không thể. Ngày lên, và tôi ngồi dậy. Sau một hồi lang thang qua những con phố, tôi lại trở về nhà, và ngủ.

Nhiều giờ trôi qua. Khi thức giấc và tỉnh táo trở lại, tôi vội vàng nôn nóng tới buồng điện thoại để hỏi xem Fruen có đi chưa.

Chưa, Fruen chưa đi.

Tạ ơn Trời, hình như nàng không muốn lẫn tránh tôi; hẳn nàng đã nhận được thư của tôi từ lâu. Không; tôi đã ghé vào một giờ gây lúng túng vào chiều hôm trước, chỉ thế thôi.

Tôi ăn một chút gì đó, nằm xuống, và lại ngủ. Khi tôi thức trời đã xế. Tôi lại lảo đảo bước vào buồng điện thoại và gọi như lần trước.

Không, Fruen chưa đi. Nhưng hành lý của bà ấy đã sắp xếp xong. Bà ấy sẽ ra ngoài ngay bây giờ.

Tôi chuẩn bị ngay tức khắc, và vội vã vòng qua đường Raadhusgaten để đứng canh chừng. Trong khoảng nửa giờ tôi nhìn thấy một số người vào ra, nhưng không có người tôi tìm kiếm. Giờ đã là năm giờ, tôi đi vào và nói với người gác cửa.

Fruen đã đi.

Đã đi rồi?

“Có phải ông đã gọi không? Bà ấy ra đúng lúc đó và lấy các thứ hành lý. Nhưng ở đây tôi có một lá thư.”

Tôi nhận lá thư, không mở nó ra, mà chỉ hỏi giờ tàu chạy.

“Tàu chạy lúc 4 giờ 45,” người gác cửa nói, nhìn vào đồng hồ đeo tay. “Giờ là năm giờ.”

Tôi đã vất đi nửa giờ khi đứng canh ở bên ngoài.

Tôi ngồi xuống một bậc thềm, nhìn chòng chọc vào sàn nhà.

Người gác cửa tiếp tục nói. Hẳn anh ta đã biết rõ đó không phải là em gái của tôi.

“Tôi đã nói với Fruen có một quý ông vừa gọi tới. Nhưng bà ta chỉ nói bà ta không có thì giờ, và nhờ tôi đưa cho ông lá thư này.”

“Khi cô ấy đi có một tiểu thư khác đi cùng hay không?”

“Không.”

Tôi đứng dậy và bước ra ngoài. Trên phố, tôi mở thư ra và đọc:

“Anh đừng theo đuổi tôi nữa—”

Tôi thờ ơ cất lá thư vào túi. Nó không làm cho tôi ngạc nhiên, không tạo ra ấn tượng gì mới mẻ. Hoàn toàn mang tính chất đàn bà, những từ vội vã, viết trong cơn bốc đồng, với đường gạch dưới và một dấu gạch ngang…

Rồi tôi chợt nghĩ ra việc đi sang địa chỉ của Frøken Elisabeth; vẫn còn một tia hy vọng. Tôi nghe tiếng chuông cửa reo bên trong nhà khi ấn chuông, và đứng lắng nghe như thể đang ở trong một sa mạc hoang vu.

Frøken Elisabeth đã đi trước đó một giờ.

Sau đó là rượu vang, và rồi whisly. Và rồi whisky vô tận. Và suốt hai mươi mốt ngày rượu chè be bét, trong thời gian đó một tấm màn buông xuống và giấu đi ý thức trần gian của tôi. Trong tình trạng này, một ngày nọ tôi chợt nảy ra ý nghĩ gửi một vật tới một ngôi nhà nhỏ ở miền quê. Nó là một cái gương soi, có khung mạ vàng rực rỡ. Và nó được gửi tới một bé gái, tên là Olga, một tạo vật ngọt ngào, gợi niềm thương cảm, như một chú bê non.

Phải, vì tôi vẫn chưa hồi phục khỏi cơn suy nhược thần kinh.

Cái cưa đang nằm trong phòng tôi. Nhưng tôi không thể lắp nó lại, vì các bộ phận bằng gỗ to nặng nhất tôi đã bỏ lại tại nhà ông mục sư ở vùng quê. Giờ nó không quan trọng gì mấy, tình yêu của tôi đối với vật đó đã lụi tàn. Những người bạn mắc chứng suy nhược thần kinh của tôi, hãy tin tôi, loại người như chúng ta thật vô dụng với tư cách là những con người, và thậm chí chúng ta không có ích gì cho bất cứ loài thú vật nào.

Tôi cho là một ngày nào đó tôi sẽ chán ngán tình trạng vô tri vô giác này, lại lên đường ra đi và sống trên một hòn đảo thêm lần nữa.


Chú thích

[1] Đồ quỷ sứ! Quyền năng của quỷ! (Từ đây trở đi, những từ in nghiêng là chữ Na Uy hoặc chữ Pháp, theo bản tiếng Anh.

[2] Rượu mạnh.

[3] Tạm biệt.

[4] Thiếu nữ, tiểu thư.

[5] Phu nhân.

[6] Erik Pontoppidan là một tác giả Đan Mạch, giám mục, sử gia kiêm nhà khảo cổ (1698 – 1764).

[7] Ngàn lần cảm ơn phu nhân, bà thật tốt bụng.

[8] Đây này.

[9] Trái tim tôi đã sẵn sàng.

[10] Ôi trời.

[11] Cảm ơn vì món rượu vang Skjænken.

[12] Forakte, nghĩa đen là khinh khi. Rõ ràng từ này bị cô gái sử dụng sai, thật ra cô ta định nói là “làm hỏng”, mục đích của tác giả là tạo ấn tượng về sự “tội nghiệp” đầy cảm động, giống như chi tiết những ngón tay dính thuốc nhuộm cũng như những điệu bộ và thái độ bối rối của cô ta sẽ được đề cập sau đây.

[13] Viên chức hành chánh cấp xã thời bấy giờ ở Na Uy.

HẾT.
  Trước   Exit 
     Mục lục Chế độ đọc
Chia sẻ truyện Dưới Ánh Sao Thu - chương 35 tới bạn bè để mọi người cùng đọc nhé !
Bình luận truyện Dưới Ánh Sao Thu
loadingĐang cập nhật phản hồi
Đăng nhập để bình luận !
Các bạn đang đọc truyện Dưới Ánh Sao Thu - chương 35. Chúc các bạn đọc truyện vui vẻ !
lên đầu trang truyện
0.22168302536 sec