Đồng Hồ XươngĐồng Hồ Xương - chương 33

Chương 33Tải chương
Truyện tổng hợp > Xuất bản
         Mục lục Chế độ đọc
Kiểu chữ
Kích cỡ chữ
Màu chữ
Màu nền
  Tự cuộn trang   Exit 
27 Tháng Mười

Tôi dậy khi trời còn tờ mờ sáng để làm lông bốn con gà mái đã chết. Bây giờ chỉ còn mười hai con gà mái. Khi tôi mới dọn đến nhà Dooneen - cách đây một phần tư thế kỷ - tôi chịu, có dí súng vào đầu cũng không thể làm lông gà. Giờ tôi có thể đập đầu, vặn cổ và moi ruột gà, thản nhiên như Má ngày trước vẫn làm món thịt bò hầm bia Guinness. Hoàn cảnh còn dạy tôi cách lột da và moi ruột thỏ mà không phải nôn thốc tháo. Nhồi được một túi phân bón cũ đầy lông gà, tôi bỏ đám gà chết vào xe cút kít rồi đi xuống cuối vườn qua chuồng gà, dừng lại cho thêm xác cáo vào cỗ xe tang một bánh đó. Một con đực. Đừng đụng vào đuôi cáo, Declan nói. Đuôi cáo như một thứ vũ khí vi trùng, đầy rẫy bệnh tật. Có lẽ còn có rận rệp nữa, mà cả nhà đã quá ngán các món chấy ve rận. Con cáo trông như đang ngủ trưa, nếu ta đừng để ý tới cái cổ bị xé toang. Một cái răng nanh hơi chìa ra, ấn xuống môi dưới. Răng của Ed của thế. Tôi tự hỏi không biết con cáo này có con thơ, bầu bạn gì không. Tôi tự hỏi không biết đám cáo con liệu có hiểu rằng cha chúng sẽ không quay về nữa, không biết chúng có đau đớn vật vã, hay chỉ tiếp tục kiếm ăn mà không thèm bận tâm. Nếu vậy, tôi thật ghen tị với chúng.

Sáng nay biển động. Tôi tưởng mình đã thấy một cặp cá heo cách chừng vài trăm mét, nhưng khi tôi nhìn lại, chúng đã biến mất, nên tôi không chắc. Gió vẫn thổi từ hướng Tây, không phải hướng Đông. Thật là một suy nghĩ tồi tệ, nhưng nếu Hinkley đang phát tán chất phóng xạ, nội chuyện gió thổi hướng nào cũng là chuyện sống còn.

Tôi đổ kiện hàng ghê gớm từ xe cút kít xuống cầu tàu bằng đá. Tôi không bao giờ đặt tên cho đám gà, vì đã đặt tên thì sẽ rất khó vặn cổ chúng, nhưng tôi thấy buồn vì chúng đã phải chết trong sợ hãi. Giờ đây chúng trôi cùng với tên sát thủ ra cửa vịnh.

Tôi muốn căm ghét con cáo, nhưng tôi không thể làm thế. Nó chỉ cố kiếm ăn mà thôi.

Trở lại nhà, Lorelei đứng trong bếp, đang phết bơ lên mấy ổ bánh hôm qua làm bữa trưa cho hai chị em. “Chào ngoại.”

“Chào con. Có rong biển khô đó. Với củ cải ngâm nữa.”

“Cảm ơn ngoại. Raf có kể chuyện con sói. Đáng ra ngoại phải đánh thức con dậy.”

“Có gì đâu cưng. Gà thì đã chết rồi, còn Zim đã xử con cáo.” Tôi tự hỏi không biết con nhỏ có nhớ hôm nay là ngày gì không. “Còn vài tấm nhôm từ nhà kho cũ - để ngoại cắm xuống quanh chuồng gà.”

“Hay đó. Ngoại còn ‘cáo’ hơn cả cáo nữa.”

“Đúng là gene ăn nói của ông ngoại Ed.”

Con nhỏ rất vui mỗi khi tôi nói những điều như vậy. “Hôm nay là… à…” nó cố gắng nói nhẹ như không “…ngày của ba mẹ. Hai mươi bảy tháng Mười.”

“Đúng rồi cưng. Con muốn thắp nhang không?”

“Dạ muốn.” Lorelei đi đến chỗ cái hộp thờ, mở nắp trước. Tấm ảnh chụp Aoife, Örvar và Lorelei mười tuổi, đằng sau là một hố khảo cổ ở L’Anse aux Meadows. Ảnh chụp mùa xuân năm 2038, năm hai đứa mất, nhưng màu xanh lá và vàng trên ảnh đã nhạt dần, màu xanh dương và hồng thì bị lốm đốm. Tôi sẵn sàng chịu trả thật nhiều để in lại nhưng không có điện, cũng không có mực in, mà cũng không có ảnh gốc để in: thế hệ bất cẩn của tôi giao hết ký ức cho Mạng, vậy là Vụ Sụp Mạng năm 39 không khác gì một cơn đột quỵ tập thể.

“Ngoại à?” Con nhỏ nhìn tôi như thể tôi đang nghĩ vẩn vơ tận đâu đâu.

“Xin lỗi con, ngoại đang…” Thường, tôi không nghĩ gì cả.

“Cái hộp đựng nhang đâu rồi?”

“À, ngoại cất rồi. Cất kỹ rồi. À…” Dạo này tôi hay bị như vậy sao? “Cái hộp, à, ở trên bếp lò đó.”

Lorelei châm cây nhang mới ở bếp, rồi thổi phù ngọn lửa nhỏ xíu. Nó đi qua phía bên kia bếp, đặt cây nhang xuống lỗ cắm trong hộp thờ. Ở rìa hộp là một đồng xu La Mã Aoife tặng cho Lorelei và chiếc đồng hồ vặn dây cót Örvar được ông để lại. Chúng tôi nhìn khói tinh dầu gỗ đàn hương kéo từng sợi từ đầu cây nhang. Gỗ đàn hương, lại một mùi hương của thế giới cũ. Năm đầu tiên chúng tôi làm việc này, tôi chuẩn bị sẵn một lời cầu nguyện và một bài thơ, nhưng tôi khóc nhiều quá khiến Lorelei hoảng hốt; kể từ lúc đó hai bà cháu ngầm đồng ý rằng chúng tôi chỉ đứng đây một lúc, một mình mà vẫn cùng nhau trong ký ức cũ. Tôi nhớ cảnh vẫy tay tạm biệt hai đứa ở sân bay Cork cách đây năm năm - là năm cuối cùng mà dân thường được mua diesel, được lái xe và đi máy bay, mặc dầu giá vé đã cao ngất ngưởng, nếu chính phủ Australia không trả tiền vé thì hai đứa đã không đi nổi. Aoife đi thăm dì Sharon và dượng Peter, hai người dọn ra đó hồi cuối những năm hai mươi, tôi hi vọng cả hai vẫn còn sống khỏe mạnh ở Vịnh Byron, nhưng mười tám tháng qua vẫn không có sợi tin tức nào đến đó, càng ít thông tin gởi về. Ngày đó thật là dễ dàng, thật là nhanh chóng, cái thời ta nếu muốn là nhắn tin được cho bất kỳ ai, ở bất kỳ đâu trên Trái Đất. Lorelei cầm tay tôi. Con nhỏ đáng ra đã đi cùng cha mẹ, nếu không phải vì chưa dứt thủy đậu, vậy là Aoife và Örvar lái xe chở nó từ Dublin đến, năm đó cả nhà còn ở Dublin. Hai tuần ở với bà ngoại Holly xem như đền vụ không được đi Australia.

Năm năm sau, tôi hít một hơi sâu, rùng mình, để ngăn dòng nước mắt. Đâu chỉ vì tôi không còn được ôm Aoife nữa, mà còn vì tất cả: đó là nỗi tiếc thương những vùng đất mà ta đã phá hủy, những tảng băng đã tan, dòng hải lưu Vịnh đã bị đổi hướng, những dòng sông cạn kiệt, những bờ biển ngập úng, những hồ ngập rác, những vùng biển bị giết chết, những loài thú tuyệt chủng, những loại ong thụ phấn bị quét sạch, lượng dầu mỏ bị phung phí, những loại thuốc men trở nên vô hiệu, những kẻ dối trá êm tai mà ta bầu lên nắm quyền - tất cả chỉ để duy trì lối sống thoải mái đó. Người ta nói về Thời Đen Tối như tổ tiên ta từng nói về Dịch Hạch, như thể đó là ý Chúa. Nhưng chính chúng ta đã gọi nó đến, qua mỗi thùng dầu ta phung phí. Thế hệ của tôi là những kẻ chè chén say sưa vô tội vạ ở Nhà hàng Rừng Vàng Biển Bạc, đã biết rõ mà cứ tự dối mình về món nợ không thể trả nổi để lại con cháu.

“Ngoại xin lỗi, Lol.” Tôi thở dài, nhìn quanh tìm một hộp khăn giấy rồi mới nhớ ra rằng thế giới này đâu còn khăn giấy nữa.

“Không sao mà ngoại. Nhớ ba mẹ cũng tốt mà.”

Ở trên gác, Rafiq đang nhảy lò cò đầu cầu thang - có lẽ đang cố mang tất, vừa nhảy vừa hát tiếng Quan Thoại lõm bõm. Các ban nhạc Trung Quốc ngày nay thu hút trẻ con trong Vành Đai như các ban nhạc New Wave của Mỹ ngày xưa từng hấp dẫn tôi.

“Mình cũng may mắn hơn nhiều người,” Lorelei khẽ nói. “Ba mẹ đâu có phải… Ngoại biết đó, nhanh lắm mà, rồi hai người đi cùng nhau nữa, và ít nhất mình cũng biết chuyện gì đã xảy ra. Nhưng với Raf…”

Tôi nhìn Aoife và Örvar. “Ba mẹ có linh thiêng hẳn rất tự hào về con, Lol.”

Rồi Rafiq xuất hiện ở đỉnh cầu thang. “Còn mật ong để ăn cháo không, chị Lol? Chào bà Holly.”

Sau khi xếp sách vở vào cặp, gói ghém bữa trưa, thắt bím tóc cho Lorelei, kiểm tra bơm insulin của Rafiq và thắt đi thắt lại chiếc cà vạt xanh - cũng dấu tích cuối cùng của đồng phục mà trường học ở Kilcrannog bắt buộc học sinh phải có, ba bà cháu khởi hành. Núi Caher sừng sững phía trước, mặt núi hướng nam tôi đã nhìn qua bao mùa, qua mưa nắng, qua đủ mọi tâm trạng gần như mỗi ngày trong vòng hai mươi lăm năm qua. Thấp bên dưới là một đồn điền rộng năm mẫu trồng thông Monterey. Tôi đẩy chiếc xe nôi, thời những năm bảy mươi chiếc xe đã là đồ cổ, những dịp nghỉ hè Sharon và tôi thường lấy làm đồ chơi.

Mo đã thức dậy, đi lại. Bà đang treo áo quần lên dây phơi khi chúng tôi đến gần cổng, bà mặc áo len geansai thật dày của dân đánh cá, áo đã bị giãn, gần như thành áo dài. “Chào cô hàng xóm. Lại thứ Sáu nữa rồi. Cả tuần loáng cái mà qua ha?” Nhà vật lý về hưu tóc bạc trắng cầm cây gậy, đi lóc cóc qua bãi cỏ cắt lởm chởm, đưa cho tôi hộp khẩu phần trống rỗng để mang vào thị trấn. “Cảm ơn trước,” bà nói, rồi tôi đáp “Có sao đâu,” rồi để chung vào với đám hộp của ba bà cháu trong chiếc xe nôi.

“Bà để con phụ cho, bà Mo à,” Lorelei nói.

“Treo đồ ta làm được, Lol à, nhưng đi hành quân vô thị trấn,” như cách tụi tôi gọi làng Kilcrannog, “thì ta chịu. Nếu không có ngoại của con giúp ta lấy hộp khẩu phần, ta không biết phải làm sao.” Mo quay cây gậy như một ông sạc-lô buồn bã. “À, ta biết chứ: ta sẽ chết đói từ từ.”

“Nói bậy,” tôi nói. “Nhà O’Daly sẽ lo cho bà.”

“Cáo giết chết bốn con gà nhà con tối hôm qua,” Rafiq kể.

“Trời, uổng vậy.” Mo liếc tôi, tôi nhún vai. Zimbra khụt khịt đánh hơi nguyên một đường lên người Mo, vẫy đuôi liên hồi.

“Nhà con cũng còn may vì Zimmy bắt được con cáo trước khi nó kịp giết hết cả đám,” Rafiq kể tiếp.

“Úi cha” Mo gãi đằng sau lỗ tai của Zimbra, điểm trúng chỗ khiến nó khoan khoái, mềm rũ thân mình. “Nghe như một đêm kinh thiên động địa.”

Tôi hỏi, “Hôm qua bà có lên Mạng được không?” Ý là, Có tin gì về lò phản ứng Hinkley Point không?

“Chỉ được có vài phút, bằng sợi mạng tuyến chính thức. Mấy tuyên bố như thường lệ.” Cả hai bỏ lửng câu chuyện ở đó, trước mặt bọn trẻ. “Nhưng lát nữa cô nhớ tạt qua chỗ tôi.”

“Tôi muốn nhờ bà coi Zimbra giùm tụi tôi,” tôi nói. “Tôi không muốn nó giở trò Tiếng gọi nơi hoang dã sau khi giết con cáo.”

“Được rồi, cứ để cho tôi coi. À Lorelei, con nói thầy Murnane là ta sẽ vô làng thứ Hai để dạy môn khoa học nha? Cahill O’Sullivan sẽ đánh xe ngựa vô hôm đó, đã hứa cho ta quá giang. Ta sẽ được ngồi kiệu hoành tráng như Nữ hoàng Sheba. Thôi đi đi, coi chừng trễ giờ. Lại đây Zimbra, xem mình có tìm ra cái đùi cừu lần trước mày chôn không…”

Mùa thu đã gần tàn. Sắc vàng chín rộ đã bắt đầu chuyển thành nhớp nháp, lạnh lẽo và đợt sương giá đầu tiên không còn xa nữa. Hồi đầu những năm 30 của thế kỷ 22, các mùa trong năm rối loạn, sương giá mùa hè, hạn hán vào đông, nhưng trong vòng năm năm trở lại mùa hè thường dai dẳng, khát khô, mùa đông cũng dài và dữ dội, còn hai mùa xuân thu vội vã chen vào giữa. Bên ngoài Vành Đai máy kéo dần dần biến mất, các vụ thu hoạch ít ỏi như trêu ngươi và trên đài RTÉ hai đêm trước còn có tin rằng các nông trại ở hạt Meath bắt đầu quay lại dùng ngựa kéo cày. Rafiq đi phía trước, vừa đi vừa hái trái mâm xôi cuối mùa, tôi nhắc Lorelei hái mang theo. Thuốc bổ vitamin trong hộp khẩu phần mỗi lúc một ít đi. Ít ra còn có những bụi dâu dại mọc dữ dội, nhưng nếu không cắt tỉa chúng sớm, con đường mòn dẫn ra lộ chính sẽ trở thành bờ dậu đầy gai quanh lâu đài của Công Chúa Ngủ Trong Rừng. Phải nói một tiếng vụ này với Declan hay Cahill. Những vũng nước cứ sâu hơn, những chỗ bùn lầy cũng lầy lội hơn, thi thoảng Lorelei phải giúp tôi khiêng chiếc xe nôi: thật tiếc, ước gì khi tiền còn dùng được tôi đã cho đắp lại đường. Tiếc hơn nữa là tôi đã không trữ thật nhiều hàng hóa, nhưng ta không bao giờ biết rằng những sự khan hiếm tạm thời sẽ trở thành vĩnh viễn, cho đến khi đã quá muộn.

Ba bà cháu đi qua con suối dẫn nước về bể nước nhà tôi và Mo. Suối chảy róc rách vui tai sau những trận mưa vừa rồi, nhưng hè năm ngoái, con suối khô cả một tuần liền. Tôi không bao giờ đi ngang suối mà lại không nhớ đến bà trẻ Eilísh vẫn kể tôi nghe chuyện Mary Bà Tiên Lông Lá Ngược Đời từng sống ở đó, khi tôi còn nhỏ xíu. Vì quá lông lá, Mary bị các thần tiên khác cười, bà trở nên vô cùng cáu bẳn, thường làm ngược lại ước muốn của người khác chỉ để trêu ngươi, vậy nên ta phải làm sao lừa được bà, bằng cách cầu xin những thứ ta không muốn. Nói “Con không bao giờ muốn có ván trượt,” sẽ mang đến một cái ván trượt, kiểu vậy. Lời cầu nguyện kiểu đó có tác dụng một thời, cho tới lúc Mary Lông Lá nhận ra người ta đang làm gì, vậy là có khi bà cho họ đúng thứ họ mong muốn, có khi cho ngược lại. “Vậy nên bài học rút ra là,” bà trẻ Eilísh nói với tôi qua sáu thập kỷ, “nếu muốn gì thì cứ cố để có được nó theo cách bình thường, đổ mồ hôi tâm trí để có. Đừng có dính gì đến thần tiên.”

Nhưng hôm nay, tôi không biết tại sao, có lẽ là do con cáo, có lẽ là Hinkley, tôi liều lĩnh. Mary Lông Lá, Bà Tiên Ngược Đời: làm ơn để các cháu tôi sống sót. “Làm ơn mà.”

Lorelei quay lại hỏi, “Ngoại có sao không ngoại?”

Ra đến lộ chính, cả nhà rẽ phải và chẳng lâu sau đi theo ngã rẽ về Trại Knockroe. Ông chủ trại Declan O’ Daly đang kéo một xe đầy cỏ khô. Declan chừng năm mươi tuổi, có vợ là Branna, hai đứa con trai lớn và một con gái học cùng lớp Lorelei, sở hữu hai tá bò Jersey và chừng hai trăm con cừu thả gặm cỏ ở đoạn cuối bán đảo nhiều đá, nhiều cây bụi. Hàng chân mày rậm, râu xoăn tít và gương mặt rắn rỏi khiến anh ta trông như thần Zeus già cỗi, anh ta đã giúp tôi và Mo nhiều lần, tôi mừng là còn có anh ta ở đây. “Muốn ôm chào bà một cái,” anh ta lên tiếng, bước qua sân trại ra đến đường, mặc đồ bảo hộ lấm lem, “nhưng mới bị bò xô vào đống phân tướng. Tức cười lắm sao,” anh ta giả vờ giận dữ, “hả cái anh Rafiq Bayati kia? Thề có Chúa, tui lấy anh làm giẻ lau bây giờ…”

Rafiq cười không thành tiếng, rung cả người và trốn sau lưng tôi khi Declan chồm tới như quái vật Frankenstein lấm lem phân bò.

“À Lol,” Declan nói, “Izzy nhờ bác gởi lời xin lỗi con, nó đi vô làng lúc sớm để giúp dì đóng thùng rau cho Xe Công Ty. Chút chiều con qua đây ngủ lại với nó, phải vậy không?”

“Dạ phải, nếu mà vẫn tiện,” cháu gái tôi trả lời.

“Bày vẽ, đám tụi bây có ăn uống bao nhiêu đâu, hả?”

“Anh thật là tử tế, còn nhận thêm một miệng ăn,” tôi nói.

“Khách mà chịu khó giúp tụi tôi vắt sữa thì luôn được…” Declan dừng lại và nhìn lên trời.

“Cái gì vậy?” Rafiq nheo mắt về phía núi Killeen Peak.

Ban đầu tôi không nhìn ra, nhưng rồi tôi nghe có tiếng sắt thép ong ong, và Declan nói, “Coi kìa…”

Lorelei hỏi, kinh ngạc, “Máy bay sao?”

Kia kìa. Một thứ tàu lượn gắn động cơ yếu ớt. Ban đầu tôi nghĩ nó lớn và còn ở xa, nhưng rồi tôi thấy nó nhỏ, ở gần. Nó đi theo dãy Seefin và Peakeen, nhắm ra hướng Đại Tây Dương.

“Máy bay drone,” Declan nói, giọng ráo hoảnh.

“Tời quá,” Rafiq lên tiếng, thích thú. “Một cái UAV thiệt luôn.”

“Bà đã bảy mươi lăm tuổi rồi đó,” tôi nhắc thằng nhỏ, ra giọng cáu kỉnh. “UAV tức là máy bay không người lái,” nó trả lời. “Như một chiếc máy bay điều khiển từ xa thiệt bự, gắn camera. Nhiều khi có gắn tên lửa luôn, nhưng cái này nho nhỏ xinh xinh à. Mặt Trận Bình Ổn có vài cái như vậy.”

Tôi hỏi, “Nó làm gì ở đây vậy?”

“Nếu tôi không nhầm,” Declan đáp, “nó đang đi do thám.”

Lorelei hỏi, “Tại sao lại có người muốn do thám chúng ta?”

Giọng Declan lo lắng: “À, vấn đề là ở chỗ đó.”

“‘Ta là con gái của Đất và Nước,” Lorelei đọc thơ, khi ba bà cháu đi ngang qua trạm điện phụ đã cũ rỉ sét.

“‘Và là em thơ của Trời;

Ta đi qua bao biển bao bờ;

Dù đổi thay, ta không chết bao giờ.’”

Tôi bâng khuâng nghĩ đến lý do tại sao thầy Murnane chọn bài thơ “Đám Mây”. Lorelei và Rafiq không phải đặc biệt: nhiều trẻ ở Kilcrannog mồ côi cha hoặc mẹ hoặc cả hai khi Thời Đen Tối ập đến. “Ui, con lại quên chỗ này rồi Ngoại.”

“‘Rồi sau cơn mưa…”

“À à con nhớ rồi.

‘Rồi sau cơn mưa sạch không một vết

Cổng thiên đàng rộng mở thênh thang

Và gió và nắng chiếu vồng”

“Ừm…

‘Xây một vòm xanh giữa hư không…’”

Không suy nghĩ, tôi lại nhìn lên trời. Trí tưởng tượng khiến tôi hình dung một chiếc máy bay nhỏ xíu trên nền xanh. Không phải là thứ đồ chơi quá cỡ như chiếc máy bay không người lái lúc nãy - mặc dù nó cũng khá ấn tượng - nhưng là một chiếc máy bay phản lực, đuôi khói chuyển từ một đường trắng sắc nét thành một dải bông gòn tơi tả. Lần cuối cùng tôi thấy máy bay là khi nào? Chừng hai năm trước. Tôi nhớ Rafiq chạy vô nhà, gương mặt kinh ngạc, tôi cứ tưởng có chuyện gì, nhưng thằng nhỏ kéo tôi ra ngoài, chỉ lên trời: “Nhìn kìa, nhìn kìa!”

Phía trước, một con chuột chạy ra giữa đường, dừng lại và quan sát ba bà cháu.

“Vồng là sao?” Rafiq hỏi, nhặt một hòn đá lên.

“Tức là lồi,” Lorelei trả lời. “Trái với lõm là uốn cong vào trong, như một cái hang.”

“Vậy Declan có cái bụng vồng phải không?”

“Không vồng bằng hồi xưa. Nhưng để chị Lol đọc tiếp thơ của ông Shelley đi.”

“Ông?” Rafiq nghi ngờ. “Shelley là tên con gái mà.”

“Là họ của ổng,” Lorelei đáp. “Tên ổng là Percy Bysshe Shelley.”

“Percy? Bysshe? Chắc ba mẹ ổng ghét ổng lắm. Chắc hồi đi học ổng bị hành dữ lắm.” Thằng nhỏ ném hòn đá về phía con chuột. Cú ném trật, con chuột chạy vào bờ dậu. Ngày trước tôi dạy Rafiq đừng dùng những thứ còn sống để làm đích tập ném, nhưng kể từ khi có Cúm Chuột, luật lệ đã thay đổi. “Đọc tiếp đi, Lol,” tôi nói. “Bài thơ đó.”

“Con nhớ ra hết rồi

‘Ta lặng cười trước đài cenotaph của riêng mình,

Rồi từ trong màn mưa,

Như đứa trẻ trong dạ con, như bóng ma từ lăng mộ,

Ta trỗi dậy, lại phá tung từ đầu.’”

“Tuyệt vời. Ba của con cũng có một trí nhớ rất tốt.”

Rafiq ngắt một cái hoa lồng đèn và hút giọt mật hoa. Đôi khi tôi nghĩ mình không nên nhắc tới Örvar trước mặt Rafiq, vì tôi chưa bao giờ gặp cha của thằng nhỏ. Nhưng Rafiq có vẻ chẳng phiền gì: “Dạ con là chỗ em bé nằm trong bụng mẹ, phải không bà Holly?”

“Đúng rồi,” tôi đáp.

“Còn xe-nờ-táp gì đó là gì?”

“Đài cenotaph. Một đài tưởng niệm người đã chết, thường là chết trong chiến tranh.”

“Mới đầu chị cũng không hiểu bài thơ,” Lorelei nói, “cho đến khi bà Mo giải thích. Bài thơ nói về sự sinh sản và tái sinh, nói về chu kỳ của nước. Khi mưa rơi, đám mây cạn kiệt, coi như đã chết; rồi gió và nắng xây nên vòm trời xanh, tức là đài cenotaph của đám mây, đúng không? Nhưng mưa từ đám mây cũ lại rơi xuống biển, rồi bốc hơi và trở thành một đám mây mới, nhìn vòm trời xanh - bia mộ của chính mình, nó bật cười vì biết mình đã tái sinh. Rồi nó bay lên trời, phá tung tấm bia mộ đó. Cưng hiểu không?”

Một bụi cây kim tước tỏa mùi va ni trong không khí, có tiếng chim hót thánh thót.

“May không, tụi em chỉ phải học bài ‘Puff con rồng diệu kỳ’,” Rafiq đáp.

Ở cổng trường Rafiq nói với tôi, “Tạm biệt bà” rồi vụt chạy đến với một đám con trai đang giả vờ làm máy bay không người lái. Tôi vừa định gọi với theo, “Coi chừng cái bơm insulin!”, nhưng thằng nhỏ đã biết nhà chỉ còn một cái dự trữ, và tại sao phải làm nó xấu hổ trước mặt bạn?

Lorelei nói, “Chào ngoại con đi học, ngoại đi chợ cẩn thận,” cứ như thể nó là người lớn còn tôi mới là người cần che chở, rồi chạy ra nhập hội với một đám con gái mới lớn ở lối vào.

Thầy hiệu phó Tom Murnane nhìn thấy tôi, rảo bước lại. “Holly, tôi muốn nói chuyện với bà. Bà vẫn muốn Lorelei và Rafiq bỏ qua lớp tôn giáo chứ? Cha Brady, cha xứ mới sẽ bắt đầu lớp Kinh Thánh ở nhà thờ sáng nay.”

“Hai đứa nhà tôi sẽ không tham gia, Tom à, nếu không phiền anh.”

“Không sao. Có khoảng tám chín đứa như vậy, tụi nó sẽ cùng làm dự án nghiên cứu hệ mặt trời thay cho tiết tôn giáo.”

“Vậy Trái Đất quay quanh mặt trời hay là ngược lại?”

Tom hiểu câu đùa của tôi. “Miễn bình luận. Bà Mo hôm nay khỏe không?”

“Cũng đỡ hơn, cảm ơn anh, tôi mừng là anh nhắc tới vì dạo này tôi cứ…” Tôi dừng lại, không nói hết câu “…cứ quên trước quên sau,” vì đó chẳng phải là chuyện đùa nữa. “Cahill O’ Sullivan sẽ chở bà ấy bằng xe ngựa thứ Hai tới, bà ấy sẽ đứng lớp dạy môn khoa học, nếu vẫn tiện cho anh.”

“Nếu bà ấy khỏe thì tụi tôi rất hoanh nghênh, nhưng nhớ nhắc bà ấy cẩn thận, để chân cẳng còn phục hồi đàng hoàng.” Chuông trường gióng lên. “Tôi phải đi đây.” Nói rồi anh ta đi ngay.

Tôi quay lại, thấy Martin Walsh, thị trưởng Kilcrannog đang vẫy tay tạm biệt con gái Roisín. Martin mập mạp hồng hào, tóc bạc cắt sát, trông như ông già Noel đang đi xin việc bảo kê hộp đêm. Ngày trước ông ấy lúc nào cũng cạo râu nhẵn nhụi nhưng mười tám tháng rồi dao cạo đã không còn xuất hiện trong hộp khẩu phần nữa, giờ đây hầu hết đàn ông trên bán đảo đều để râu, không kiểu này thì kiểu khác. “Bà Holly, bà khỏe không?”

“Không có gì để càm ràm cả, Martin à, nhưng Hinkley Point thật đáng ngại.”

“Ấy dà, đừng nói tới nữa, tuần này bà có tin gì của anh trai không?”

“Tôi cứ cố nối sợi mạng để gọi nhưng mà toàn nhận tin nhắn không có Mạng, hoặc được vài giây thì bị đứt sợi. Vậy nên không, tôi vẫn chưa nói chuyện với Brendan đã một tuần rồi, khi đó mức báo động lên Đỏ Thấp. Anh ấy sống trong khu cách ly gần Bristol, nhưng không quá xa khỏi vùng cấm mới nhất, mà nhân viên bảo vệ làm sao chống nổi phóng xạ. Nhưng dù sao,” tôi viện đến châm ngôn của tuổi già, “đành chịu vậy chứ biết làm sao hơn.” Những người tôi quen biết hầu như ai cũng có bà con trong vùng nguy hiểm, hoặc là rất khó liên lạc, nên nếu cứ tỏ ra quá lo lắng thì thật khó coi. “Roisín trông đã khỏe hẳn. Vậy không phải quai bị hả?”

“Không, không, chỉ là sưng hạch thôi, tạ ơn Chúa. Bác sĩ Kumar cũng còn ít thuốc. Nhà thần kinh học điện toán của ta sao rồi, vụ cái cổ chân đó?”

“Đang hồi phục. Lúc nãy tôi bắt gặp bà ấy phơi áo quần.”

“Tuyệt vời. Nhớ nói lại với bà ấy là tôi có hỏi thăm.”

“Tôi sẽ nói, à mà Martin này, tôi muốn hỏi anh một chuyện.”

“Bà cứ tự nhiên.” Martin chồm người tới gần, nắm tay khuỷu tay tôi, như thể anh ta, chứ không phải tôi, mới là người bị điếc nhẹ - đúng kiểu quan chức địa phương hành xử với những người già cả một tuần trước bầu cử, trong một cộng đồng chỉ có ba trăm cử tri.

“Mặt Trận Bình Ổn sẽ phân phát than trước mùa đông chứ?”

Gương mặt Martin như muốn nói, Ước gì tôi biết. “Nếu mà tới được đây, thì câu trả lời là có. Chuyện muôn thuở: các quan ở Dublin cứ nhìn vào Khu Vành Đai, rồi nghĩ, à cái đám đó sung sướng thật, vẫn còn sống dựa vào đất đai được, rồi cứ để mặc chúng ta. Em họ tôi ở Ringaskiddy nói tàu than có neo lại tuần rồi, chở đầy thang từ Ba Lan, nhưng liệu có đủ nhiên liệu để chạy xe tải phân phát không lại là chuyện khác.”

“Rồi trộm cướp giữa Ringaskiddy và Xứ Đầu Cừu nữa,” Fern O’Brien từ đâu chạy tới góp chuyện, “rồi than rơi rớt vô độ từ xe tải. Nói thiệt tui không trông mong gì đâu.”

“Tụi tôi cũng đã nêu vấn đề,” Martin tiếp, “ở cuộc họp ủy ban vừa rồi. Tôi với vài chú nữa tính làm một chuyến nho nhỏ lên núi Caher Saddle cạo than bùn. Ozzy dưới lò rèn đã làm một cái… gọi là cái gì ta? - khuôn ép để mà ép than bùn thành bánh, bự lắm.” Hai tay Martin đưa ra cách nhau chừng ba tấc. “Thì đúng không phải than thứ thiệt, nhưng có còn hơn không, mà nếu ta không chừa Rừng Năm Mẫu ra, thì chẳng mấy chốc nó sẽ thành Rừng Không Mẫu. Để hong khô than rồi tôi sẽ nói Fíonn chở cho bà với bà Mo mỗi người một chuyến khi hắn đi Trại Knockroe lấy diesel lần tới - không cần biết bà bỏ phiếu cho ai. Giá lạnh đâu có màng tới chính trị, mà ta phải cưu mang đùm bọc lẫn nhau.”

“Tôi sẽ bầu cho ứng cử viên đương kim,” tôi cam đoan với anh ta.

“Cảm ơn bà Holly. Mỗi lá phiếu đều có giá trị.”

“Mà cũng đâu có phe đối lập đáng kể nào, phải không?”

Fern O’Brien chỉ tay phía sau tôi, đến chỗ bảng thông báo của nhà thờ. Tôi bước đến, đọc tấm áp phích viết tay to đùng, mới keng dán trên đó:

THỜI ĐEN TỐI LÀ PHÁN XÉT CỦA CHÚA TRỜI CON CHIÊN CHUNG THÀNH LÊN TIẾNG “ĐÃ ĐỦ RỒI!” HÃY BẦU CHO ĐẢNG CỦA CHÚA BẦU MURIEL BOYCE LÀM THỊ TRƯỞNG.

“Muriel Boyce? Thị trưởng? Nhưng Muriel Boyce là, ý tôi là…”

“Đừng coi thường Muriel Boyce,” Aileen Jones cựu nhà làm phim tài liệu chuyển ngành câu tôm lên tiếng, “bà ấy rất thân với cha xứ, ngay cả khi không biết viết đúng chính tả từ ‘trung thành’. Có một mối liên hệ giữa cuồng tín và viết sai chính tả. Tôi từng thấy rồi.”

Tôi hỏi, “Cha McGahern đâu có bao giờ đụng tới chính trị trong nhà thờ, phải vậy không?”

“Không bao giờ,” Martin đáp. “Nhưng Cha Brady khác hoàn toàn. Tới Chúa Nhật tôi sẽ ngồi ở ghế băng mà nghe cha xứ giảng rằng Chúa chỉ phù hộ gia đình anh nếu anh bầu cho Đảng của Chúa.”

“Người ta đâu có ngu ngốc,” tôi nói. “Họ sẽ không nghe đâu.”

Martin nhìn tôi như thể tôi chưa nhận ra cục diện vấn đề. Dạo này tôi hay bị nhìn như vậy. “Người ta cần phao cứu sinh, cần phép màu. Đảng của Chúa cho họ cả hai thứ đó. Tôi chỉ cho được mấy bánh than bùn thôi.”

“Nhưng phao cứu sinh không có thật, còn than bùn thì có. Đừng bỏ cuộc. Anh vốn có uy tín là người sáng suốt. Người ta sẽ nghe lắng nghe lý lẽ.”

“Lý lẽ?” Aileen Jones nhộn giọng nhưng ảo não. “Như bác sĩ Greg ông bạn già tôi ngày xưa hay nói, nếu có thể nói lý lẽ với dân mộ đạo, thì sẽ không còn ai mộ đạo nữa. Nói anh đừng phiền, Martin à.”

“Tới giờ này tôi đâu phiền nổi nữa, Fern,” ông thị trưởng đáp.

Theo lộ Church Lane chúng tôi ra đến quảng trường Kilcrannog. Phía trước là quán bar của Fitzgerald, một khu nhà thấp, nhếch nhác, bằng tuổi ngôi làng. Qua hàng thế kỷ, người ta cơi nới thêm, sơn trắng cả khu, mặc dù gần đây không sơn sửa gì. Mấy con quạ lang thang ngủ trên mái ngói, dưới đầu hồi. Bên tay phải là kho diesel, lúc tôi mới tới thì là trạm xăng Maxol, ngày trước người ta vẫn thường đến tha hồ đổ đầy những chiếc Toyota, Kia, VW. Giờ chỉ có mỗi xe bồn của hợp tác đi quanh các trại. Bên phía trái là cửa hàng hợp tác, nơi ủy ban sẽ phân phát các hộp khẩu phần, phía nam của quảng trường là Hội Trường Lớn. Hội Trường Lớn cũng là chợ phiên vào ngày có Xe Công Ty, chúng tôi đi vào, Martin giữ cửa mở để tôi đẩy chiếc xe nôi vào trong. Hội trường ồn ào nhưng hôm nay không có mấy tiếng cười đùa - vụ Hinkley Point đổ bóng lù lù. Martin nói sẽ gặp tôi sau rồi đi vận động cử tri, Aileen đi tìm Ozzy nói chuyện làm mấy chi tiết bằng kim loại cho thuyền buồm còn tôi bắt đầu đi qua các gian hàng. Tôi tìm giữa những chiếc bàn xếp bày táo, lê và các loại rau củ không đạt chuẩn cho Công ty Ngọc Tây, thịt muối nhà tự làm, mật ong, trứng, cần sa, phô mai, rượu poitín, các loại chai và hộp nhựa, áo quần len, áo quần cũ, sách cũ tơi tả và hàng ngàn thứ mà ngày trước ta thường đem cho các cửa hàng từ thiện hoặc vứt rác. Khi tôi mới dọn đến bán đảo Đầu Cừu hai mươi lăm năm trước, phiên chợ Tây Cork là nơi phụ nữ địa phương bán bánh và mứt chỉ để tiêu khiển, là nơi dân hippie Tây Cork cố bán mấy món điêu khắc thần cây Green Man cho khách du lịch Hà Lan, còn dân trung lưu đến chợ để mua sốt pesto hữu cơ, hạt chà là Medjool và phô mai sữa trâu mozzarella. Ngày nay chợ có vai trò như siêu thị ngày xưa: là nơi ta mua mọi thứ, trừ những thứ cơ bản được cấp trong hộp khẩu phần. Với những chiếc xe nôi cải tiến, xe đẩy em bé và các loại xe đẩy hàng siêu thị cũ, con người ở đây như một lớp kịch đói rách, râu tóc rậm rạp, không phấn son, tạp nham, như giễu nhại lại một siêu thị Tesco hay Lidl chỉ năm sáu năm trước. Người ta đổi chác, mua và bán, dùng mánh khóe, đồng nhân dân tệ và đồng đô la Đầu Cừu - những đĩa kim loại tròn có khắc số, ấn hành bởi ba thị trưởng của Durrus, Ahakista và Kilcrannog. Tôi đổi bốn mươi tám quả trứng lấy dầu gội đầu Trung Quốc rẻ tiền, có thể dùng để giặt quần áo; vài túi muối rong biển và đổi mấy mớ cải xoăn đổi lấy len chưa nhuộm từ Killarney để làm cho xong tấm mền; mứt quả lý chua - hũ đựng có giá trị hơn mứt trong hũ- lấy bút chì và một thếp giấy A4 để đóng thêm vài cuốn tập, tập vở của hai đứa nhỏ bị tẩy xóa quá nhiều lần, giờ đây giấy mỏng đến nỗi nhìn xuyên qua được; và cuối cùng, chần chừ mãi, tôi đổi đôi ủng cao su cuối cùng còn nguyên hộp cất kỹ đã mười lăm năm, lấy mấy tấm bạt nhựa trong để còn may áo mưa cho ba bà cháu, và để sửa lại nhà lưới trồng rau sau đợt gió đông. Bạt nhựa rất hiếm, và Kip Sheehy làm vẻ mặt tiếc rẻ, đúng như tôi đoán, nhưng ủng lội nước còn hiếm hơn, vậy là chỉ cần nói “Thôi để lần tới vậy” và bỏ đi, tôi khiến gã phải trả thêm hai mươi mét sợi acrylic và một mớ bàn chải đánh răng. Tôi lo chuyện răng cỏ của Rafiq. Ba bà cháu, cũng như mọi người, ăn rất ít đường, nhưng ở tây Cork không còn nha sĩ nào nữa.

Tôi hỏi thăm Niamh Murnane, vợ của Tom Murnane, đang ngồi ở bàn với mấy bị cói đựng yến mạch và nho khô: Mặt Trận Bình Ổn không còn tiền để trả cho giáo viên nữa, vậy là họ trả lương bằng thức ăn có thể đổi chác được. Tôi cứ mong sẽ tìm được băng vệ sinh cho Lorelei, vì Mặt Trận Bình Ổn không còn cho đó là nhu yếu phẩm nữa, mà nghe đâu trên chuyến tàu Công ty vừa rồi cũng không có hàng. Branna O’Daly dùng giẻ xé ra từ tấm trải giường cũ, phải giặt để dùng lại vì ngay đến tấm trải giường cũ giờ cũng khan hiếm. Giá như tôi biết để dành món này hồi mấy năm trước. Giá như. Nhưng càm ràm kiểu đó thì thật bất kính với hơn ba triệu người phải chật vật mưu sinh bên ngoài Vành Đai.

Trong khu nhà phụ, Sinéad từ quán bar của Fitzgerald đang rót đồ uống nóng và súp nấu tại bếp của Hội Trường Lớn, bếp cũng có chức năng giữ ấm Hội trường trong mùa đông. Khi tôi lỉnh kỉnh đẩy xe nôi tới, Pat Joe, thợ cơ khí của hợp tác đưa tay đầy dầu mỡ kéo ghế cho tôi ngồi, đến đoạn này thì tôi phải ngồi nghỉ. Con đường từ Dooneen mỗi thứ Sáu lại dài hơn với tôi và một bên người tôi càng lúc càng buốt. Đáng ra tôi nên đến gặp bác sĩ Kumar, nhưng cô ấy làm được gì nữa nếu bệnh ung thư của tôi tái phát? Không còn máy chụp cắt lớp nào nữa, không còn phác đồ thuốc men gì cả. Molly Coogan, trước đây chuyên thiết kế trang web, giờ chuyển ngành trồng táo trong vườn nhà lưới dưới mạn Ardahill, đang ngồi ở bàn với với ông chồng Seamus. Vì là người Anh, tôi được hỏi liệu tôi có biết gì về Hinkley Point không, nhưng tôi phải khiến họ thất vọng.

Không ai nối được sợi mạng ra khỏi đảo Ireland cả hai ba hôm nay. Tuy vậy Pat Joe có nói chuyện với anh họ ở Ardmore bên Đông Cork hồi tối hôm qua, trong vòng vài phút anh chàng thành trung tâm của sự chú ý. Nghe đâu hai trăm dân tị nạn từ Bồ Đào Nha dạt vào bờ biển trên năm sáu chiếc thuyền, giờ đang sống trong những khu nhà hoang cũ xây từ thời Ireland mới phất. “Mặt dày mày dạn,” Pat Joe kể tiếp, mân mê tách súp, “như thể là nhà của tụi nó vậy. Vậy là thị trưởng Aardmore dẫn đầu một… một phái đoàn ra khu nhà hoang, anh họ tui có trong đó, để mà nói với đám tị nạn rằng, tụi này rất tiếc, nhưng mà mấy người không thể ở đây qua mùa đông được, Hợp Tác không có đủ đồ ăn, đồn điền không đủ củi cho dân làng, chứ nói gì thêm hai trăm miệng ăn nữa. Một tay to con bước ra, móc súng, mặt lạnh như tiền, rồi bắn cái một rớt luôn mũ của Kenny, như phim cao bồi miền tây!”

“Trời đất! Trời đất!” Betty Power- mệnh phụ ưa màu mè, chuyên trách nhà xông khói của Kilcrannog thốt lên. “Rồi ông thị trưởng làm sao?”

“Gởi người tới đồn lính của Mặt Trận Bình Ổn ở Dungarvan, xin tiếp viện… thì họ nói là xe jeep không có diesel, ta nói, khốn nạn mà.”

“Xe jeep của Mặt Trận Bình Ổn không có diesel?” Molly Coogan hỏi, sửng sốt.

Pat Joe bĩu môi và lắc đầu. “Một giọt cũng không. Ông thị trưởng được dặn là cố mà ráng hết sức ‘làm dịu tình hình’. Nhưng ổng làm gì được nếu trong tay chỉ có mỗi khẩu súng bắn ghim giấy?”

“Tui có nghe nói,” Molly Coogan kể, “là tàu Tôn Trung Sơn…” một trong những tàu khu trục hộ tống tàu chở hàng Trung Quốc về phía cực “…đã vô Cảng Cork tuần rồi, đem theo năm trăm lính thủy đánh bộ. Hơi bị biểu dương lực lượng.”

“Chị bỏ qua một số không rồi, Moll,” Fern O’Brien chồm qua từ bàn bên cạnh. “Bill chồng của Jude hôm đó trực chuyển hàng ở Ringaskiddy, thiệt luôn, nó thề là tệ gì cũng phải năm ngàn lính diễu hành dưới cờ Trung Quốc.”

Tôi có thể mường tượng Ed, bạn đời quá cố từ lâu, nếu ở đây, hẳn anh đã trợn tròn mắt trước độ tin cậy của thứ tin tức này, nhưng vẫn chưa hết, câu chuyện chuyển sang chị dâu của em họ của Pat Joe ở hạt Offaly, người này quen một “tay thạo tin” trong Ban Nghiên Cứu của Mặt Trận Bình Ổn ở trung tâm Dublin, nghe đâu bên Thụy Điển người ta đã tổng hợp được một giống lúa mì chống được bệnh nấm cây, còn tự thụ phấn nữa. “Tui chỉ nghe gì nói lại vậy thôi,” Pat Joe tiếp, “Nhưng nghe đâu Bình Ổn tính trồng giống đó khắp Ireland mùa xuân tới. Nếu người ta no bụng thì mấy vụ cướp bóc hôi của, bạo loạn này kia cũng sẽ chấm dứt.”

“Bánh mì trắng,” Sinéad Fitzgerald thở dài. “Đúng là mơ.”

“Tui không muốn làm anh cụt hứng, Pat Joe à,” Seamus Coogan góp chuyện, “nhưng ‘tay thạo tin’ đó có phải là tay từng nói rằng bên Đức người ta chế ra thuốc chữa Cúm Chuột, rồi nói Mỹ đã thống nhất trở lại, tổng thống đang gởi máy bay thả chăn mền, thuốc men và bơ đậu phụng cho các nước NATO không? Hay đó là bạn của một người bạn từng gặp một người tị nạn gần Youghal, rồi nghe kể lại, đem bà già ra mà thề thốt là đã tìm được một xứ Kỹ Nghệ Cao, nơi vẫn còn có điện hai mươi bốn tiếng, nước nóng để tắm gội, dứa và mousse sô cô la đen, ở Bermuda hay Iceland hay đảo Azores gì đó?”

Tôi nghĩ đến những chiếc phao cứu sinh tưởng tượng mà Martin đã nhắc tới.

“Tui chỉ nghe gì nói lại vậy thôi,” Pat Joe hừ mũi.

“Tương lai có ra sao đi nữa,” Betty Power góp chuyện, “chúng ta đều nằm trong tay Chúa, là ý Chúa hết.”

“Rõ là Muriel Boyce cũng nghĩ vậy,” Seamus Coogan đáp.

“Martin đang làm hết sức mình,” Betty Power tiếp, “nhưng rõ là chỉ có Nhà Thờ mới có thể chống lại được cái ác đang hoành hành trên thế giới.”

“Nếu Chúa tốt vậy thì tại sao chỉ ra tay cứu giúp khi mình chịu bầu cho ổng?” Molly hỏi.

“Thì phải cầu xin chứ,” Betty Power chớp mắt. “Cầu nguyện rồi ắt được.”

“Nhưng ý Molly là,” Pat Joe tiếp, “tại sao Ngài lại không trực tiếp đáp lại lời cầu nguyện của chúng ta? Tại sao Ngài cần chúng ta bỏ phiếu?”

“Làm vậy để đưa Nhà Thờ về đúng chỗ,” Betty nói. “Để đưa đường chỉ lối cho nước mình.”

Câu chuyện trở nên căng thẳng, nhưng chẳng khác gì một đám trẻ nhỏ đang cãi nhau về hành vi và động cơ của ông già Noel. Tôi đã thấy những gì xảy ra sau cái chết, Bụi Tối và Cồn Cát, và nó thật như thể cái tách mẻ trên tay tôi. Có lẽ những linh hồn tôi đã thấy đang trên đường đến một cõi nào đó sau Bể Cuối, nhưng nếu là vậy, thì cõi ấy không hề giống những gì mục sư hay thầy pháp từng giảng. Không có Chúa nào cả, trừ những gì ta tưởng tượng, tôi có thể đảm bảo với các giáo dân cùng xứ với mình rằng: con người hoàn toàn đơn độc, từ lâu đã luôn là vậy…

… nhưng chân lý của tôi cũng không điên khùng hơn hay tỉnh táo hơn đức tin của họ; với nữa, ai có quyền giết ông già Noel? Nhất là một ông già Noel hứa hẹn sẽ đoàn tụ nhà Coogan với con trai đã chết, Pat Joe với anh trai quá cố, tôi với Aoife, Jacko, Má và Ba; ông già Noel có thể quay ngược lại Thời Đen Tối, mang trở lại cho ta hệ thống sưởi trung tâm, mua sắm qua mạng, hàng không Ryanair và sô cô la. Khao khát của ta với những người thân, với thế giới đã mất cũng cháy bỏng như nỗi đau tang tóc: nó gào thét đòi được cho ăn. Giá mà sự khao khát đó đừng làm ta yếu đuối trước những người như Cha Brady.

“Có bầu?” Betty Powers che miệng. “Thôi đi!” Cả hội đã trở lại tám chuyện trên Đảo Đầu Cừu. Tôi muốn hỏi ai có bầu, nhưng nếu hỏi bây giờ, họ sẽ nghĩ tôi đã bắt đầu nặng tai, hay mất trí.

“Vấn đề là chỗ đó.” Sinéad Fitzgerald chồm tới. “Ba thằng choai choai đi chơi với tiểu thơ Hegarty sau lễ thu hoạch, phê không còn biết gì…” cô ta làm động tác hút cỏ “…vậy nên cho tới khi đứa nhỏ nhìn rõ nét để mà chơi trò Đoán Con Nhà Ai, Damien Hegarty cũng không biết phải chĩa súng vào chú nào. Đúng là nhức cả đầu.”

Nhà Hegarty nuôi dê ở mạn dưới bán đảo, giữa Ahakista và Durrus. “Choáng không,” Betty Power tiếp, “Niamh Hegarty mới có mười sáu tuổi, phải vậy không? Không có mẹ ở nhà để mà dạy dỗ đàng hoàng, là vậy đó. Cứ tưởng ưa làm gì cũng được. Vậy nên Cha Brady…”

“Suỵt…” Pat Joe nói, đưa một ngón tay lên, lắng nghe…

… những chiếc tách được đưa lên giữa chừng; những câu nói dở dang; các em bé được dỗ nín; gần hai trăm con người Tây Cork im bặt, cùng một lúc; rồi đồng loạt thở ra nhẹ nhõm. Là Xe Công Ty: hai xe jeep vỏ sắt, chặn đầu đuôi xe bồn chở diesel và xe tải lớn. Bên trong Vành Đai vẫn còn có máy kéo và máy gặt, xe của Bình Ổn vẫn chạy trên đường N71 cũ về Bantry để phục vụ cho chốt lính và kho, nhưng bốn chiếc xe mới cóng đang chạy trên lộ Church Lane không phải là những người khách quen duy nhất đến Kilcrannog. Nếu lớn hơn tuổi Rafiq, âm thanh đó gợi lên cái thế giới mà ta từng biết. Hồi đó, xe cộ là tiếng ồn, không phải là “âm thanh”, nhưng giờ đã đổi khác. Nếu nhắm mắt lại khi đoàn xe đến, ta vẫn có thể tưởng tượng ra năm 2030, lúc đó ta còn có xe riêng, Cork chỉ cách chín mươi phút lái xe, mình mẩy tôi không đau nhức cả ngày còn biến đổi khí hậu chỉ là vấn đề với những người sống ở các vùng dễ bị lũ lụt. Chỉ có điều những ngày này tôi không nhắm mắt được, vì khi mở ra tôi thấy thật đau đớn. Tất cả đi ra ngoài đứng xem. Tôi kéo theo chiếc xe nôi. Không phải là tôi không tin tưởng người làng, sợ họ ăn cắp của một bà già đang phải nuôi hai đứa trẻ, nhưng ta không nên khiêu khích những kẻ đang đói.

Chiếc xe jeep dẫn đầu chạy lên, qua khỏi trạm diesel. Bốn tay lính Bình Ổn Ireland còn trẻ nhảy ra, mặt mày kênh kiệu khi thấy đám dân quê trố mắt nhìn quân phục, súng ống, tướng tá của chúng: đâu phải tình cờ mà đám con gái còn đơn chiếc ở Kilcrannog ra sức trang điểm, ăn diện mặc dù mỹ phẩm ngày càng hiếm vào những ngày có Xe Công Ty. Corinna Kennedy ở Trại Rossmore lấy một tay bên Xe Công Ty, giờ đây sống ở chốt lính Bandon, mỗi ngày hưởng tới năm giờ có điện. Tay trưởng nhóm nói tiếng Anh pha tiếng Quan Thoại như súng bắn vào máy bộ đàm gắn trong mũ, xác nhận lại địa điểm hiện thời cho Xe Chính. “Mỗi cái mũ đó còn giá trị hơn nhà tui nữa,” Pat Joe nói, không phải lần đầu tiên, “nếu mà có chỗ quen biết chịu mua bằng nhân dân tệ.”

Ba người lính Trung Quốc nhảy xuống từ chiếc xe jeep sau đuôi, mặc quân phục Công ty Ngọc Tây, còn gọi là CNT. Đám này cao hơn lính Ireland, răng cỏ ngon lành hơn và súng ống cũng “ngầu” hơn, nói theo kiểu Aoife thời thiếu niên. Lính Ireland có nói năng chút đỉnh, còn lính Trung Quốc thì được lệnh không giao du với dân địa phương. Bantry là mũi phía tây, hoang dã hơn của Khu Đất Thuê, chỗ diesel họ đem tới còn quý hơn vàng. Một tay lính Ireland thấy Kevin Murray đang châm tẩu quá gần xe bồn, ngay lập tức sủa, “Làm ơn dập ngay cho!” Mất mặt, Kevin lủi thủi vào lại Hội Trường Lớn. Người của Xe Công Ty không cần phải dọa dẫm. CNT là dây rốn nối chúng tôi với kho ở Ringaskiddy, nơi có những món hàng đặc biệt không còn được sản xuất ở Ireland, hay ở châu Âu nữa, như chúng tôi biết.

Hai nhân viên Xe Công Ty hàng tuần là Noel Moriarty, lái xe bồn và Seamus Li, nhà buôn chính. Noel mắt liên láo, miệng mồm nhanh nhảu, da trắng, đầu hói, chừng ba lăm tuổi, đang bắt tay và hỏi han Martin khi đợi lắp vòi hút. Martin hỏi Noel có thông tin gì về Hinkley Point không. Noel đáp sếp bên CNT nói là người Trung Quốc đang giám sát hiện trường bằng vệ tinh tầm thấp, nhưng cả khu phức hợp dường như đã bị bỏ hoang. Chưa đầy một phút, tin tức lan khắp đám đông chầu chực, nhưng rồi như thường lệ thật khó mà rút ra kết luận đáng tin cậy từ những chi tiết ít ỏi đó. Noel Moriarty và Martin ký giấy tờ cho nhau, rồi tay lái xe bồn kéo cần gạt màu đỏ, dòng diesel bắt đầu chảy vào bồn của Hợp Tác. Chúng tôi cố ngửi lấy chút mùi đó, ai cũng chạnh lòng nhớ lại Thời Xăng Dầu.

Xe tải lớn trong khi đó đã lùi vào nhà kho Hợp Tác bên kia quảng trường, Seamus Li nói chuyện với Olive O’Dwyer, phó thị trưởng của Kilcrannog. Hàng hóa chất lên xe tải hầu hết là nông sản: từ tủ đông là bò mới ngả thịt, heo muối, gà tây, thỏ, cừu, còn từ kho tươi là những thùng thuốc lá phơi khô, tỏi tây, cải xoăn, hành củ, khoai tây, bí đỏ và trái cây cuối vụ. Phần lớn trái cây và rau củ sẽ được cung cấp cho Nhượng Địa Ringaskiddy, nơi các sếp CNT sống với gia đình họ, hoặc thủy thủ đoàn của Hạm Đội Đại Tây Dương trực thuộc Hải quân Giải Phóng Nhân dân. Phần thịt, không phải sản phẩm vô tính và không chứa caesium - cho đến nay thì vậy - sẽ được đem bán với giá cắt cổ ở Bắc Kinh, Trùng Khánh và Thượng Hải. Sữa sẽ được chuyển thành bột ở Ringaskiddy, và là một mặt hàng xuất khẩu chính.

Đổi lại ba Hợp Tác trên Đảo Đầu Cừu, tức Durrus, Ahakista và Kilcrannog nhận diesel, phân bón, thuốc trừ sâu, máy móc, bóng đèn, công cụ thiết bị cùng với các đơn hàng đặc biệt - bao gồm thuốc men thiết yếu như insulin của Rafiq - mỗi tháng phải được ủy ban duyệt. CNT còn có thỏa thuận với Mặt Trận Bình Ổn Cork để cung cấp những mặt hàng cơ bản trong hộp khẩu phần hàng tuần cho chúng tôi, mặc dù chất lượng các món này mấy tháng rồi càng lúc càng tệ. Tuy nhiên, hàng hóa quan trọng nhất mà Công ty cung cấp lại là an ninh. CNT bảo vệ Khu Đất Thuê thông qua việc trả tiền cho quân đội Bình Ổn canh giữ sáu mươi dặm Vành Đai, cũng là lý do tại sao dải bờ biển mười dặm từ Bantry đến Cork không phải chịu tình trạng hỗn loạn như ở hầu khắp châu Âu khi Thời Đen Tối tắt phựt mạng điện và làm xã hội văn minh kiệt quệ. Mấy tay đàn ông trong quán bar của Fitzgerald lẩm bẩm rằng họ làm thế đâu phải vì lòng tốt gì, rồi CNT chắc chắn lời khẳm từ chỗ này, nhưng đến hạng say xỉn ngớ ngẩn nhất cũng hình dung được cuộc sống trên Xứ Đầu Cừu sẽ man rợ chừng nào nếu không có ba thứ đó: Công ty, Xe Công Ty và Vành Đai.

Vành Đai cũng như Vạn Lý Trường Thành của chúng tôi.

Chiếc xe nôi và tôi đã chực sẵn ở cổng trường đúng ba giờ chiều. Tôi nhớ lại những nhà trẻ và trường học ở bắc London và Rye, nơi tôi đi đón Aoife. Câu chuyện giữa phụ huynh xoay quanh hộp khẩu phần vơi một nửa, được Hợp Tác phát lại cho chúng tôi, bất kể tuổi tác, mỗi hộp có 400 gram yến mạch, độn vỏ trấu và rơm, 200 gram gạo lứt, 200 gram đậu lăng, 50 gram đường và 50 gram muối, một hộp mười gói trà túi lọc Nhãn Rồng, nửa bánh xà phòng DMZ, một hộp bột giặt Hàn Quốc đã quá hạn hai năm, một lọ i-ốt có nhãn ghi bằng chữ kirin và kỳ khôi nhất, là một cục gôm Hello Kitty có mùi cola. Những thứ không dùng được sẽ được mang ra đổi chác vào chợ phiên thứ Sáu nhưng hộp khẩu phần hôm nay có lẽ là tệ nhất trong sáu năm kể từ khi người ta áp dụng chế độ khẩu phần, sau vụ mất mùa năm ‘39. “Tôi biết, thật là tệ,” Martin nói với một đám người đang càm ràm, “nhưng tôi là thị trưởng, không phải là nhà ảo thuật. Tôi đã nối sợi mạng cho Bình Ổn ở Cork tới xanh mặt, nhưng tôi làm sao bắt họ trả lời nếu họ không muốn? Bình Ổn đâu phải là một nền dân chủ: họ còn phải lo cho người của họ, và chỉ tuân lệnh Dublin thôi.”

Martin được chuông tan trường cứu vớt. Bọn trẻ ùa ra, ba bà cháu đi dọc theo lộ chính ra khỏi Kilcrannog, Lorelei và Rafiq thay nhau ngửi cục gôm mùi cola. Mùi hương làm sống lại những ký ức rất xa xưa của Lorelei, nhưng Rafiq thì chưa bao giờ được nếm cola thật, vậy là nó cứ hỏi, “Nhưng cola là gì mới được? Trái cây hay rau gia vị, hay là gì nữa?”

Ngôi nhà cuối cùng ở bìa thị trấn là nhà của Muriel Boyce, đứng một mình sau dãy nhà liên kế. Nhà to, vuông vức, mỗi cửa sổ có rèm lưới, nhà kính thư giãn giờ đã chuyển thành nhà kính trồng rau, như phần lớn các hộ quanh đây. Ba căn trước nhà Muriel Boyce là của vợ chồng ba trong số bốn anh con trai bệ vệ, hình như lại cũng đẻ toàn con trai, nên dãy nhà còn được gọi là “Ngõ Trai Boyce”. Tôi nhớ Ed kể rằng ở những vùng bộ lạc ở Afghanistan, có con trai tức là có quyền lực: Thời Đen Tối cũng đưa đẩy ta theo hướng đó. Cửa nẻo trên mấy nhà đó đều có sơn thánh giá. Muriel Boyce xưa giờ vẫn rất mộ đạo, thời trước hay đứng ra tổ chức những chuyến hành hương về Lourdes, nhưng từ khi ông chồng “được gọi về với Chúa” hai năm trước - vì đau ruột thừa - lòng mộ đạo như mọc thêm nanh vuốt, bà ta không cắt tỉa bờ dậu nữa, nhưng chẳng hiểu sao vẫn nhìn rõ ra đường được. Ba bà cháu đã đi qua khỏi đó mới nghe bà ta gọi tên tôi. Chúng tôi quay lại, bà ta đứng ngay cổng vào vườn. Bà ta ăn mặc như nữ tu, đứng cạnh cậu con trai Dónal hai mươi tuổi, ục à ục ịch. Dónal mặc quần short rách tua và áo may ô. “Tối này trời đẹp quá, Holly hả. Lorelei, trời ơi dạo này lớn xinh quá ta? Chào Rafiq. Học lớp mấy rồi cưng?”

“Lớp bốn,” Rafiq đáp, dè dặt. “Chào bà.”

“Trời đẹp quá hả Lolly,” Dónal Boyce lên tiếng, Lorelei gật đầu, nhìn lảng ra xa.

Muriel Boyce nói, “Tui nghe nhà bà bị cáo vô hả?”

“Bà đã nghe đúng,” tôi đáp.

“Xui quá ta?” bà ta tấm tắc. “Mất mấy con vậy?”

“Bốn.”

“Bốn con sao?” Bà ta lắc đầu. “Có con nào đẻ trứng nhiều không?”

“Một hai con gì đó.” Tôi nhún vai, muốn đi cho rồi. “Trứng nào cũng là trứng mà.”

“Chó nhà bà nghe nói bắt được con cáo hả?”

“Đúng vậy.” Tôi mong bà ta sẽ yêu cầu tôi bầu cho mình, để tôi còn trả lời bâng quơ rồi ra về. Nghĩ vậy, tôi gợi chuyện “Tôi có nghe bà đang tranh cử thị trưởng.”

“À đúng ra tôi không muốn, nhưng Chúa cứ nài nỉ, nên tôi tuân lệnh Ngài. Người ta có quyền bầu cho bất kỳ ai, đương nhiên rồi - bà sẽ không thấy tôi đi quanh bà con lối xóm để mà ‘mồi chài’ đâu”. Đã có cha Brady làm giúp bà còn gì, tôi nghĩ thầm, Muriel đưa tay xua ruồi. “Không, không, mà là chuyện tụi nhỏ,” bà ta mỉm cười nhìn Lorelei và Rafig, “nên tôi muốn nói chuyện với bà đây, Holly à.” Hai đứa nhỏ ngơ ngác. “Con có làm gì đâu,” Rafiq cãi.

“Có ai nói gì đâu à,” Muriel Boyce nhìn tôi, “nhưng có đúng là bà không để Cha Brady giảng cho tụi nó về Tin Lành của Chúa sao?”

“Ý bà là lớp tôn giáo?”

“Về lớp học kinh thánh của Cha Brady, đúng vậy.”

Muriel Boyce nhìn ra xa, thở dài về hướng Vịnh Dunmanus. “Cả xứ đạo ngưỡng mộ cách bà sẵn lòng xông xáo, khi Chúa gởi bà chăm hai đứa này, khi bà đã già cả. Mà một đứa còn không phải máu mủ ruột rà gì! Không ai trách cứ gì bà được.”

“Máu mủ ruột rà không có liên quan gì cả.” Giờ đây tôi thấy tức tối. “Tôi không nhận nuôi Rafiq để được xứ đạo ngưỡng mộ, hay vì ‘Chúa’ muốn tôi làm vậy - tôi làm vậy vì đó là việc đúng đắn.”

Cái mỉm cười của Muriel Boyce thật khó chịu. “Chính vậy mà cả xứ vô cùng ngỡ ngàng, vì bà cứ khăng khăng không lo phần tâm linh cho tụi nó. Chúa rất thất vọng. Thiên thần của bà đang khóc, ngay cạnh bà, ngay lúc này. Sắp nhỏ trong thời loạn lạc này cần sức mạnh của lời cầu nguyện hơn lúc nào hết. Bà làm vậy khác gì bỏ đói tụi nó.”

Lorelei và Rafiq nhìn quanh, đương nhiên chẳng thấy ai cả.

“Ui, ta thấy được thiên thần của mấy cưng chứ.” Muriel Boyce mắt rưng rưng nhìn lên đầu ba bà cháu, như đang hầu đồng. “Thiên thần của cháu như một người chị, Lorelei à, nhưng có tóc vàng óng dài, còn thiên thần của Rafiq là đàn ông, da đen nhưng rõ là một trong Ba Vua Thông Thái, nhưng cả ba đều đang buồn, buồn lắm. Thiên thần của ngoại các cháu đang khóc, mắt xanh hóa đỏ, thiệt luôn. Làm ta đau lòng ghê lắm. Thiên thần nài nỉ bà…”

“Đủ rồi Muriel, lạy Chúa.”

“Đúng vậy, lạy Chúa Jesus Christ, vì Người mà tôi…”

“Không không không không. Đầu tiên, bà không đại diện cho cả xứ đạo. Thứ nữa, tôi e là mấy ‘thiên thần’ mà bà ‘thấy được’ hay tỏ ra đồng ý với Muriel Boyce quá, nên khó mà tin được. Thứ ba là, cha mẹ Lorelei không phải là giáo dân, còn mẹ của Rafiq là người Hồi giáo, với tư cách là người bảo trợ cho hai đứa, tôi tôn trọng ý muốn của cha mẹ tụi nó. Xong rồi. Chúc bà ngày tốt lành, Muriel.”

Ngón tay Muriel Boyce bám chặt lấy cổng, khiến tôi nghĩ tới móng vuốt. “Người ta cứ đòi nhận là ‘vô thần’ khi bị Satan dụ dỗ bằng tiền bạc, phá thai, khoa học và truyền hình Sky TV nhưng giờ thấy kết cục người ta mới biết hối hận.” Bằng một bàn tay bà ta đưa thánh giá về phía tôi, như thể nó sẽ quy phục tôi. “Nhưng Chúa sẽ tha thứ cho những kẻ có tội biết cầu xin Người tha thứ. Cha Brady sẵn sàng đến nói chuyện với bà, ở nhà bà. Và ở chỗ này, ơn Chúa, ta có nhà thờ chứ không phải thánh đường Hồi giáo.”

Tôi để ý thấy Dónal đang thèm thuồng nhìn Lorelei.

Tôi đẩy xe ra xa, nói với hai đứa trẻ, “Đi thôi.”

“Để xem bà có chịu đổi giọng không,” Muriel Boyce gọi với theo, “Khi Đảng của Chúa kiểm soát Hợp Tác, quyết định cho gì vào hộp khẩu phần, để rồi xem.”

Tôi thấy sốc, quay lại. “Bà dọa tôi đó sao?”

“Sự thật đó, Holly Sykes. Thêm nữa: thức ăn trong bụng các người là thức ăn của Ireland. Thức ăn của Thiên chúa giáo. Nếu các người không ưa, thì ở bên Anh quốc nghe đâu còn dư nhiều nhà lắm, nghe đâu gần Hinkley đó.”

Tôi nghe có tiếng chặt củi. “Xứ Đầu Cừu là nhà tôi.”

“Nhiều người quanh đây sẽ không đồng ý với bà đâu, nhất là khi phải thắt lưng buộc bụng. Bà cứ nhớ cho là hơn.”

Chân tôi rệu rã, cứng đờ, như cà kheo, tôi bước đi.

Dónal Boyce gọi với theo. “Gặp cưng sau nha, Lol.”

Thằng nhãi là một mối họa ranh mãnh, cơ bắp, đang động dục. Ba bà cháu rời khỏi làng, qua khỏi tấm biển Slán abhaile và biển giới hạn tốc độ tám mươi cây số giờ đã cũ. “Con không thích cái kiểu Dónal Boyce nhìn con chút nào, Ngoại à,” Lorelei nói.

“Ừ,” tôi đáp, “ngoại cũng không thích.”

“Con cũng không,” Rafiq tiếp. “Dónal Boyce là cái đồ thúi tha.” Tôi mở miệng định trách, “Ăn nói kiểu gì đó,” nhưng rồi thôi.

Bốn mươi phút sau chúng tôi về tới nhà, ở cuối con đường Dooneen gập ghềnh. “Dooneen” có nghĩa là “pháo đài nhỏ”, với tôi căn nhà của ba bà cháu chính là pháo đài đó, tôi cảm thấy vậy ngay khi cất thức ăn, những món từ chợ phiên và hộp khẩu phần. Khi hai đứa đi thay áo tôi cố mở máy bảng xem có liên lạc được với Brendan không, hay là với bà con ở Cork, nhưng không ăn thua: tôi chỉ nhận được một tin nhắn KHÔNG NHẬN ĐƯỢC MÁY CHỦ, rồi thì, NẾU SỰ CỐ VẪN CÒN, LIÊN LẠC VỚI NHÀ BUÔN ĐỊA PHƯƠNG. Thật vô tích sự. Tôi kiểm tra đám gà mái, lượm ba trứng mới từ chuồng gà. Khi Rafiq và Lorelei đã sẵn sàng, cả ba chen qua bụi cây giữa vườn nhà tôi và vườn của Mo, rồi đi ra cửa sau nhà bà. Cửa mở, Zimbra xộc vào bếp, vẫy đuôi. Khi còn nhỏ nó vẫn thường nhảy chồm lên, nhưng giờ nó đã trầm tính hơn. Hộp khẩu phần của Mo và trứng cất vào trong tủ kệ. Tôi chốt lại cẩn thận để phòng chuột. Ba bà cháu thấy Mo đang ngồi trong phòng có cửa kính, chơi Scrabble với chính mình. “A học trò đã về. Trường hôm nay sao? Chợ hôm nay sao?”

“Cũng được,” Rafiq nói. “nhưng mà tụi con thấy máy bay drone hồi sáng nay.”

“Ừ, ta cũng thấy. Bình Ổn chắc là xăng nhiều quá không biết làm gì. Kỳ khôi thật.”

Lorelei nhìn bàn cờ Scrabble. “Ai đang thắng vậy, bà Mo?”

“Ta đang đánh bại chính mình: tỉ số 384 -119. Có bài tập về nhà không?”

“Con phải giải phương trình bậc hai,” Lorelei nói. “Hay chưa.”

“À, thứ đó con vừa ngủ vừa làm cũng được, ta biết mà.”

“Con có bài địa lý,” Rafiq nói. “Bà Mo có bao giờ thấy voi chưa?”

“Rồi. Trong sở thú, với lại ở một khu bảo tồn ở Nam Phi.”

Rafiq tròn mắt. “Có đúng là tụi nó to bằng cái nhà không? Thầy Murnane nói vậy.”

“Bằng nhà nho nhỏ thôi. Voi Phi châu to hơn voi Ấn Độ. Đúng là những con vật tuyệt vời.”

“Vậy tại sao người ta để tụi nó bị tuyệt chủng?”

“Đủ mọi lý do lý diếc, nhưng những đàn voi cuối cùng bị giết để vài người ở Trung Quốc có thể khoe giàu, bằng cách tặng nhau những món linh tinh làm bằng ngà voi.”

Mo vốn không thích nói giảm nói tránh. Tôi nhìn gương mặt Rafiq trở nên dằn dỗi khi nó suy nghĩ về điều đó. “Con ước gì con được sinh ra cách đây sáu mươi năm,” nó nói. “Voi nè, hổ nè, gorilla nè, gấu trắng nữa… Những con vật hay nhất đều biến mất rồi. Giờ mình chỉ còn chuột, rồi quạ, với lại sâu tai.”

“Với vài con chó hạng nhất nữa chứ,” tôi nói, vỗ đầu Zimbra.

Tự dưng cả nhà cùng im lặng. John, chồng của Mo, đã chết mười lăm năm, mỉm cười trong khung hình phía trên lò sưởi. Một bức tranh tả thực tuyệt đẹp bằng sơn dầu, vẽ vào một ngày mùa hè trong khu vườn nhà cũ của Mo và John trên đảo Cape Clear. John Cullin bị mù, cuộc sống của ông không phải lúc nào cũng dễ dàng, nhưng ông sống vào một thời văn minh, ở một xứ văn minh, nơi người ta được no bụng. John làm thơ rất hay, từng có người hâm mộ gởi thư từ Mỹ.

Cái thế giới mà John sống không làm bằng đá, mà bằng cát. Tôi e là thế. Chỉ cần một trận bão tệ hại, là mất hết.

Sau đó, Lorelei đi xuống Trại Knockroe ngủ lại với bạn. Mo qua nhà tôi ăn tối, Rafiq và hai bà già ăn đậu tằm và khoai chiên bơ. Hồi bằng tuổi Rafiq, Aoife sẽ phụng phịu trước những món đạm bạc như vậy, nhưng trước khi đến Ireland, Rafiq từng biết thế nào là đói cào ruột, thằng bé chưa bao giờ từ chối thức ăn. Tráng miệng là trái mâm xôi ba bà cháu hái trên đường về và một ít đại hoàng hầm. Bữa tối im lặng hơn khi không có Lorelei, khiến tôi nhớ đến lúc Aoife mới vô Đại học. Sau khi rửa chén, cả ba vừa chơi bài kipbi vừa nghe một chương trình trên đài RTÉ dạy đào giếng. Rồi Rafiq dẫn Mo về nhà trước khi trời tối, tôi tranh thủ đi đổ thùng phân xuống biển rồi xem hướng gió: vẫn là hướng đông. Tôi gom đàn gà vào ổ, chốt cửa chuồng cẩn thận, ước gì tối qua tôi cũng làm vậy. Rafiq trở về, ngáp, rửa ráy qua loa trong xô nước lạnh, đánh răng rồi đi lên phòng ngủ. Tôi đọc một tờ New Yorker cũ từ tháng Mười Hai năm 2031, ngấu nghiến một truyện ngắn của Ersilia Holt và ngẩn ngơ ngắm những mẩu quảng cáo, những thứ của nả đã tồn tại cách đây chưa lâu.

Mười một giờ mười lăm, tôi bật máy bảng để nối mạng với Brendan, nhưng khi máy hỏi mật khẩu, tôi không nhớ gì cả. Mật khẩu của chính tôi. Trời đất. Tôi chưa bao giờ đổi mật khẩu. Là gì đó liên quan tới chó… Nhiều năm trước nếu thi thoảng bị đãng trí như thế này, tôi đã phá ra cười, nhưng vào tuổi này, ta không thể tin tưởng trí óc mình nữa. về mặt trí tuệ ta đã là kẻ vô gia cư. Tôi đứng dậy lấy cuốn sổ ghi chép con con, nhưng Zimbra nằm trên chân tôi, rồi tôi nhớ ra: NEWKY, tên của con chó nhà nuôi khi tôi còn nhỏ. Tôi nhập mật khẩu và cố nối sợi mạng với Brendan. Sau năm ngày công cốc, tôi chuẩn bị tinh thần kiểu gì cũng sẽ nhận báo lỗi, nhưng ngay lần đầu tiên tôi nhận được một hình ảnh có độ phân giải cao, ông anh đang ở cách tôi hai trăm năm mươi dặm, nhăn nhó nhìn vào máy bảng trong thư phòng tại nhà ở Exmoor. Có chuyện xấu: mấy làn tóc bạc rối bời, gương mặt mệt mỏi, sưng húp, giọng thì hồi hộp run rẩy. “Holly? Anh thấy được cô rồi! Cô có thấy anh không?”

“Không những thấy mà còn nghe được nữa, Brendan à, rõ mồn một. Có chuyện gì vậy?”

“À, trừ vụ…” anh với tay ra xa lấy đồ uống, và tôi nhìn vào bức hình trên kệ chụp Brendan Sykes cách đây hai mươi năm, đang bắt tay Vua Charles tại lễ khai trương Làng Biệt Lập Tintagel “…trừ vụ miền Tây nước Anh mỗi lúc một giống cảnh tượng trong Sách Khải Huyền và một lò phản ứng hạt nhân ở gần đây sắp phát nổ? À ăn cướp. Tụi anh được ghé thăm hai đêm trước.”

Tôi thấy buồn nôn. “Trong Làng, hay trong chính nhà anh?”

“Trong Làng, nhưng như vậy cũng quá tệ. Bốn đêm trước đám bảo vệ mẫn cán biến mất hết, đem theo nửa số đồ ăn trong kho và máy phát điện dự trữ.” Brendan đã ngà ngà say, tôi để ý. “Đa số mọi người ở lại - biết đi đâu giờ? Tụi anh thay phiên nhau canh gác.”

“Anh có thể qua đây mà.”

“Nếu anh không bị bọn cướp đường thịt ở Swansea. Nếu bọn buôn người không cắt cổ anh ở cách bờ biển Wales chừng một dặm. Nếu cảnh sát nhập cư ở Ringaskiddy chịu nhận hối lộ của anh.”

Đến giờ tôi nhận ra, nếu trước đây còn mơ hồ, rằng tôi sẽ không bao giờ gặp lại Brendan nữa. “Biết đâu Oisín Corcoran giúp được?”

“Tụi nó còn chật vật sống qua ngày, làm sao giúp ông già tị nạn tám mươi mốt tuổi người Anh. Không, thực tình là cứ tới tuổi nào đó thì… đi đây đó là chuyện của người khác, không còn liên quan tới ta nữa.” Anh uống whisky. “Anh vừa kể với cô vụ mấy đứa ăn cướp. Chừng một giờ sáng nay báo động kêu inh ỏi, vậy là anh mặc áo, lấy khẩu súng lục 38, rồi xuống nhà kho, thấy chừng chục đứa nào súng, nào dao, nào mặt nạ, đang chuyển đồ lên xe tải. Jem Linklater đi tới, nói với đứa đầu sỏ, “Mấy nhỏ đang chôm đồ ăn của tụi này đó, tụi này có quyền đuổi mấy nhỏ đi.” Thằng nhóc chiếu đèn mặt trời thẳng vào mặt Jem rồi nói. “Giờ là của tụi này hết, Ngoại lui cho, cảnh cáo lần cuối đó.” Jem không chịu lui lại, và rồi Jem…” Brendan nhắm mắt lại “…Jem bị tụi nó bắn bể đầu.”

Tay tôi đưa lên che miệng. “Lạy Chúa, anh thấy tận mắt sao?”

“Chỉ cách có chục bước. Thằng giết người nói, ‘Còn hảo hán nào nữa không?’ Rồi có tiếng súng nổ, tay bảo vệ ngã xuống, hoảng loạn tứ tung, bọn ăn cướp nhận ra tụi anh không phải là mấy ông già lụ khụ như tụi nó tưởng. Ai đó bắn đèn trước xe tải. Trời quá tối, không biết ai đứng đâu, không biết mô tê gì nữa, rồi…” Ngực Brendan phập phồng. “…anh chạy vào nhà lưới trồng cà chua, một thằng cướp xông bổ vào anh, tay lăm lăm mã tấu, anh cứ tưởng… Rồi tự dưng khẩu 38 nằm trong tay anh, tháo chốt, và một tiếng nổ, rồi có gì đó trượt vô người anh… Mặt nạ hắn bị tuột ra, rồi anh thấy… anh thấy hắn chỉ là một thằng nhóc con, nhỏ hơn Lorelei. Mã tấu thực ra là một cái xẻng con. Rồi…” Brendan cố giữ giọng “…anh đã bắn nó, Hol. Bắn trúng tim.”

Anh tôi run rẩy, gương mặt ướt đẫm nướt mắt, và một ký ức nảy đến trong tôi, một phụ nữ nằm giữa giao lộ, trong một mê cung phi lý, đầu bị đập móp, cây cán bột bằng đá hoa rơi xuống từ tay tôi. Tôi nói, “Trong hoàn cảnh đó…”

“Anh biết. Lúc đó anh nghĩ nếu nó không chết thì mình sẽ chết, rồi tự dưng phản xạ như vậy. Chính anh đào huyệt cho nó, ít ra anh làm được chuyện đó. Tuổi anh đào chừng đó đất cũng không dễ gì. Tụi anh hạ bốn người của tụi nó, còn tụi nó giết hết sáu, thêm con trai nhà Harry McKay bị thủng phổi. Ở Exmouth có trạm xá, nhưng thô sơ như Thời Trung Cổ.”

“Bren, nếu anh không qua bên này được, hay là em…”

“Không được!” Lần đầu tiên Brendan trông hoảng sợ. “Vì cô, vì Lol, vì Rafiq, lạy Chúa, ở yên đó. Đi lại bây giờ quá nguy hiểm, trừ khi cô có mười cận vệ có vũ khí sẵn sàng giết chóc và Xứ Đầu Cừu có lẽ là nơi an toàn nhất ở Tây Âu. Hồi Công ty Ngọc Tây mới thuê dải đất ven biển ở Tây Cork, anh cứ nghĩ, thật là nhục nhã cho dân Ireland, nhưng ít ra giờ ở đó cô còn có luật pháp, có trật tự này kia. Ít ra…”

Gương mặt Brendan sựng lại giữa chừng, như thể gió vừa đổi chiều ngay khi anh đang làm vẻ mặt kỳ khôi. “Brendan? Anh nghe em không?” Không có gì cả. Tôi lầm bầm bực bội, Zimbra nhìn lên, lo lắng. Tôi thử nối sợi mạng trở lại, thử khởi động lại máy bảng, tôi thử chờ đợi. Tôi còn chưa hỏi liệu anh có nghe tin gì của Sharon ở Australia không, nhưng giờ tín hiệu mạng đã mất hẳn, và tôi có linh cảm nó sẽ không trở lại nữa.

Lên phòng, tôi không ngủ được. Những bóng đen chập choạng thấp thoáng, đung đưa trên nền đêm đen tối hơn. Gió mạnh lên, mái nhà rệu rạo, biển gầm gào. Những gì Brendan nói cứ lặp đi lặp lại không nguôi, tiếng được tiếng mất trong đầu tôi: Tôi cố nghĩ đến những thứ tốt đẹp hơn, cố bình tĩnh lại, nhưng như thường lệ, đã quá muộn. Anh trai tôi, triệu phú bất động sản ngày nào, giờ đây yếu đuối, hốc hác. Tôi ghen tị với những nhà sùng đạo như nhà Boyce. Lời cầu nguyện có thể là thứ giả dược trị chứng vô vọng, nhưng giả dược vẫn có thể khiến ta cảm thấy dễ chịu hơn. Ở cuối khu vườn vang vọng tiếng sóng vừa chết đi rồi sóng mới sinh ra, cứ thế đời đời chẳng cùng, Amen. Ở phòng đối diện, Rafiq ú ớ trong mơ, hơi lớn tiếng, sợ sệt, bằng tiếng Ả rập. Tôi đứng dậy, đến phòng thằng bé rồi nói, “Con có sao không, Raf?” nhưng nó vẫn say ngủ, vẫn ú ớ, vậy là tôi quay trở lại giường ấm. Dạ dày tôi yếu ớt lên tiếng phản đối. Ngày xưa, “thân xác tôi” là chính “tôi”, chỉ chừng đó, nhưng giờ đây “tôi” là tâm trí còn thân xác chỉ là một cái hộp đựng đủ thứ bệnh tật đau đớn. Răng hàm tôi nhức buốt, nửa người bên phải vẫn đau thốn, chứng thấp khớp khiến khuỷu và gối tôi rệu rã, nếu thân xác này là một chiếc xe, hẳn tôi đã tống tiễn từ lâu. Nhưng cái gia đình nhỏ bé, muộn màng và bất ngờ của tôi - tôi, Lorelei, Rafiq, Zimbra và Mo - lại dựa vào thân xác đó. Nhà O’Daly sẽ chăm sóc hai đứa nhỏ, tôi biết chứ, nhưng thế giới ngày một tệ đi, chứ không tốt đẹp lên. Tôi đã thấy trước tương lai, một tương lai đói khát.

Ngón tay tôi lần tìm mặt dây chuyền bạc hình mê cung của Jacko, cột bằng dây ở đầu giường, rồi tôi áp nó lên trán. Mô-típ của những bức tường, những lối rẽ và giao lộ mát lạnh, khiến đầu tôi đỡ nóng một chút. “Tôi không tin các người đã sống sót,” tôi rì rầm nói với bất kỳ thiên thần hộ mệnh nào, với bất kỳ Trắc Sĩ nào còn sống sót, “vậy nên tôi không nghĩ các người nghe được tôi. Nhưng hãy để tôi sai. Cho tôi một phép màu cuối cùng. Hai trái táo vàng, nếu được. Hãy đưa hai đứa nhỏ ra khỏi đây, đến nơi nào an toàn, nếu vẫn còn nơi nào an toàn. Tôi xin các người.”
         Mục lục Chế độ đọc
Chia sẻ truyện Đồng Hồ Xương - chương 33 tới bạn bè để mọi người cùng đọc nhé !
Bình luận truyện Đồng Hồ Xương
loadingĐang cập nhật phản hồi
Đăng nhập để bình luận !
Các bạn đang đọc truyện Đồng Hồ Xương - chương 33. Chúc các bạn đọc truyện vui vẻ !
lên đầu trang truyện
0.214968919754 sec