Mười đêm mộngMười đêm mộng - chương 2

Đêm thứ sáu - đêm thứ mườiTải chương
Truyện tổng hợp > Xuất bản
         Mục lục Chế độ đọc
Kiểu chữ
Kích cỡ chữ
Màu chữ
Màu nền
  Tự cuộn trang   Exit 
Đêm thứ sáu

Nghe nói Unkei (8) đang khắc hình ông hộ pháp ở sơn môn chùa Gokoku (Bảo Quốc), tôi đi bộ đến tiện thể xem thử, nào ngờ trước mình đã có đám đông người tập trung, bàn tán xôn xao.

Trước sơn môn năm, sáu bước có một cây tùng đỏ thật to, thân cây nghiêng nghiêng che mái cổng, vươn dài ra tận bầu trời xanh xa thẳm. Màu xanh của tùng và màu đỏ của sơn môn hòa chiếu với nhau trông thật đẹp. Hơn nữa vị trí của cây tùng cũng rất đẹp. Cây tùng mọc bên trái cổng vừa đẹp vừa không gây cản trở gì, lại cao và và vừa đủ nghiêng, đủ rộng để che mái chùa, trông rất cổ xưa. Thậm chí có thể nghĩ đây thuộc thời Kamakura.

Nhưng những người đang xem chùa, cũng như tôi, là người thời Meiji. Trong đó phu xe là nhiều nhất. Chắc chắn là do đi, về đều tập trung ở ngã tư nên họ đứng đó.

- To quá nhỉ.

- Coi bộ làm cái này còn kỳ công hơn cả sanh con nhỉ.

Tôi cũng vừa nghĩ vậy thì có tiếng người đàn ông:

- Ủa, ông hộ pháp đây nhỉ. Bây giờ mà cũng khắc thần hộ pháp à? Chắc vậy. Mà tôi nghĩ thần hộ pháp và mọi thứ ở đây đều rất cổ đó chứ.

- Coi bộ cũng mạnh mẽ đấy chứ nhỉ. Anh nói gì? Từ xưa đến giờ, ai mạnh hơn ông hộ pháp đâu. Nghe nói môn nào cũng hơn cả Yamato Dakenomikoto đấy.

Lại có tiếng một người khác góp chuyện. Người này không đội nón, ngồi bệt, rõ là một người không có giáo dục.

Unkei không mảy may quan tâm đến những người xung quanh, cứ đưa búa, đục qua lại. Không ngó tới cũng chẳng ngó lui. Lại bỏ đi, leo lên chỗ cao để khắc mặt thần hộ pháp. Trên đầu bức tượng, Unkei gắn một vật như mũ lông chim, tay áo buộc trên vai, không rõ là kiểu áo suo lúc xưa hay là gì khác. Kiểu dáng quả thật xưa cũ.

Người xem xung quanh xì xào bàn tán như kiểu mấy người đi câu mà không câu được con cá nào. Tôi thì nghĩ tại sao Unkei lại sống đến giờ phút này. Tôi vừa đứng vừa nghĩ quả thật là khó hiểu.

Phần Unkei, chẳng ra vẻ gì đặc biệt, không kỳ bí cũng chẳng hiện thực, cứ cắm cúi khắc tượng. Một người đàn ông trẻ liếc nhìn thái độ đó, quay về phía tôi:

- Đúng là Unkei. Trong mắt chẳng màng đến thiên hạ. Ra cái điều anh hùng trong thiên hạ chỉ có mình và hộ pháp. Đáng phục.

Tôi nghĩ anh này nói hay. Nhìn anh ta một chút, anh ta lại nói tiếp ngay:

- Xem cái cách dùng búa và đục kìa, đạt đến biên giới của an nhiên tự tại rồi đấy.

Lúc này Unkei đang khắc ngang, hơi cao một chút trên đôi lông mày đậm. Răng đục dựng nghiêng, Unkei gõ búa từ trên cao xuống. Khi tôi vừa nghĩ tiếng cây ứng với tiếng búa, cây bị gọt nhẹ đi thì một loáng đã hiện lên một cái mũi với lỗ mũi nở ra như giận dữ. Cái cách cho lưỡi đục vào cây cũng chẳng hề do dự. Có thể thấy Unkei như chẳng hề có chút lưỡng lự nào.

- Mấy ai cầm đục tạo được cặp chân mày và cái mũi theo ý muốn mà không phác sẵn nhỉ?

Tôi thán phục và tự nói một mình thì người đàn ông trẻ lúc nãy nói:

- Cái gì, đó chẳng phải là cặp chân mày và cái mũi từ cái đục đó sao. Hai thứ y như thế bị chôn trong cây, bây giờ dùng đục và búa khắc ra thôi. Y như là đào đá từ trong đất ra, dứt khoát là thế rồi.

Lúc này, lần đầu tiên tôi mới nghĩ khắc tượng là công việc như vậy. Nếu vậy thì ai cũng có thể làm được. Tự nhiên tôi cũng muốn làm thử tượng thần hộ pháp nên quyết định không xem nữa và quay về nhà.

Tôi lôi từ trong hộp đồ nghề cái đục và cái búa vàng ra. Phía sau nhà có nhiều cây cao su bị cơn bão lần trước đánh đổ, tôi định đốt nên đã gom lại dồn đống rất nhiều.

Tôi lựa cây lớn nhất, bắt đầu đục thử thì bất hạnh thay, chẳng ra hình hộ pháp. Sau đó cũng chẳng may mắn chút nào. Lần thứ ba cũng không ra ông hộ pháp. Tôi thử với mớ cây gom được, cây này đến cây khác nhưng chẳng có cây nào chứa ông hộ pháp bên trong. Tôi ngộ ra cái cây thời Minh Trị không thể chôn ông hộ pháp bên trong được. Cuối cùng tôi cũng hiểu ra lý do tại sao Unkei sống đến ngày nay.


Đêm thứ bảy

Tôi đang đi trên chiếc tàu mà mọi thứ trên đó đều to lớn.

Chiếc tàu này, mỗi ngày, mỗi đêm bỏ lại làn khói đen, tiến về phía trước. Một âm thanh vang dội. Chiếc tàu đi về đâu tôi không biết. Chỉ thấy mặt trời như cặp đũa kim loại nung đỏ hiện lên từ cuối con sóng. Khi tôi còn đang thắc mắc, để lên đến đỉnh cột buồm, hẳn cũng mất chút ít thời gian thì chẳng biết từ lúc nào, chiếc tàu đã vượt qua một chiếc tàu lớn, xăm xăm băng về phía trước. Cuối cùng, nó lại như cặp đũa kim loại nung nóng bị chìm xuống đáy. Cứ mỗi lần như vậy, ở phía xa, con sóng xanh lại sủi màu đỏ sậm. Con tàu lại cất tiếng vang dội, hùng dũng đuổi theo dấu sóng đó. Đương nhiên là chẳng bao giờ đuổi kịp.

Một lần, tôi bắt chuyện với người đàn ông trên tàu:

- Con tàu này đi về hướng Tây phải không?

Người đàn ông nhìn tôi một lúc, ra vẻ kỳ lạ, hỏi ngược lại tôi:

- Sao?

- Tại tôi thấy nó cứ như đuổi theo Mặt trời lặn.

Người đàn ông cười ha hả rồi bỏ đi. Có tiếng người đồng thanh:

- Đích cuối của Mặt trời đi về hướng Tây là hướng Đông ư? Thật không? Hay quê hương của Mặt trời mọc từ hướng Đông là hướng Tây? Thật không? Thân tôi trên ngọn sóng. Gối là mái chèo. Trôi, trôi…

Tôi đi về đầu tàu xem thử, thấy đám đông ngư dân đang nắm chắc trong tay một cái lưới thật to.

Trái tim tôi tự nhiên co lại. Khi nào lên bờ được, chẳng biết. Cũng chẳng biết đi đâu. Chỉ thấy rõ một việc là con tàu cứ phun khói đen, lướt sóng mà đi. Sóng rất to, một màu xanh vô hạn. Có khi thành màu tím. Chỉ xung quanh tàu lúc nào cũng bọt tung trắng xóa. Tim tôi thắt lại. Tôi nghĩ thà chết đi còn hơn đi trên con tàu như thế này.

Bây giờ có rất nhiều người trên tàu. Hầu hết là những người kỳ lạ. Nhiều sắc mặt khác nhau. Trời chuyển sang u ám, khi con tàu hơi lắc lư, một người con gái tựa vào thành tàu, khóc rấm rứt. Tôi thấy chiếc khăn tay lau mắt màu trắng. Nàng mặc bộ đồ tây trông còn mới tinh. Khi nhìn nàng, tôi chợt nhận ra không chỉ mình đau khổ.

Một buổi tối, tôi lên boong tàu, một mình ngắm sao thì có một người đến hỏi tôi biết thiên văn học không? Tôi chán đến nỗi muốn chết đi cho rồi. Có cần phải biết thiên văn không? Và tôi im lặng. Thế rồi người đó kể tôi nghe câu chuyện Thất tinh có Kim Ngưu tinh. Người đó nói sao trời, biển cả đều do thần thánh tạo ra. Cuối cùng lại hỏi tôi có tin thần thánh không? Tôi im lặng nhìn bầu trời.

Có một lúc, tôi đi vào đại sảnh, chợt chú ý đến người con gái trẻ ăn mặc đỏm dáng đang chơi dương cầm. Bên cạnh nàng có một người đàn ông cao lớn, đẹp trai đứng hát. Tôi thấy miệng anh ta thật to. Hai người có vẻ như không quan tâm dến ai ngoài họ. Thậm chí có vẻ như họ quên cả mình đang đi trên tàu.

Tôi càng cảm thấy buồn chán hơn. Và quyết tâm tìm đến cái chết. Vì thế, vào một buổi tối, vừa lúc không có ai xung quanh, tôi quyết định nhảy xuống đại dương. Nhưng… khi chân tôi rời boong tàu, đúng vào khỏanh khắc dứt bỏ duyên phận với nó, đột nhiên tôi thấy tiếc sinh mạng mình. Từ đáy con tim, tôi nghĩ phải chi mình dừng lại thì hay biết mấy. Nhưng… muộn rồi. Tôi có tiếc nuối hay quyết tâm đi chăng nữa cũng phải chìm xuống biển sâu. Có điều, tôi vẫn nhận ra con tàu to lớn đến mức bản thân tôi đã rời tàu nhưng chân vẫn chưa chạm nước. Chẳng có gì để tôi bấu víu, tôi dần dần tiến gần mặt nước hơn. Tôi cố không để chân chạm nước nhưng vô vọng. Nước biển đen ngòm.

Lúc đó, con tàu như thường lệ, nhả khói đen và lướt qua. Tôi bắt đầu nhận ra rằng thà đi trên con tàu ấy, dù không biết đi về đâu cũng còn tốt hơn. Thế nhưng, tôi chẳng làm gì hơn được với nhận thức ấy mà im lặng chìm sâu vào những con sóng đen, ôm trong lòng nỗi hối tiếc và sự hoảng sợ vô hạn.


Đêm thứ tám

Tôi bước qua ngưỡng cửa tiệm hớt tóc, ba bốn người mặc kimono trắng cúi chào một lượt. Đứng chính giữa nhìn quanh, tôi thấy căn phòng hình vuông. Cửa sổ ở hai hướng, hai hướng còn lại treo gương. Cũng phải đến sáu tấm gương.

Tôi tiến đến trước một tấm gương và ngồi xuống. Thật là một cái ghế êm ái. Mặt tôi soi trong gương thật rõ ràng. Sau lưng là cửa sổ. Tôi thấy cả quầy thu tiền. Chẳng có ai ở đó. Nhìn ra cửa sổ, vài người đứng ngoài, tôi thấy từ hông họ trở lên.

Shotaro dắt một người con gái ngang qua. Shotaro đội chiếc mũ Panama mua từ lúc nào đó. Người con gái như được tạo ra. Cả hai có vẻ đắc ý điều gì. Tôi định nhìn kỹ mặt người con gái thì họ đã đi mất.

Người bán đậu hũ thổi kèn ngang qua. Chiếc kèn để sát miệng, má phồng ra như bị ong chích. Ông ta cứ phồng má đi ngang qua như vậy khiến tôi không cưỡng được tò mò. Tôi cứ nghĩ ông ta như dính với số phận bị ong chích.

Một geisha (9) xuất hiện. Nàng vẫn chưa hoá trang. Búi tóc kiểu shimada (10) lỏng lẻo, không được chăm chút. Khuôn mặt cũng còn ngái ngủ, sắc mặt cực kỳ khó coi. Nàng cúi đầu chào và hỏi gì đấy nhưng người nói chuyện chẳng buồn tiến ra.

Tiếp đến một người đàn ông to lớn mặc kimono trắng từ sau lưng tôi tiến đến, tay cầm kéo và lược, bắt đầu chỉnh đầu tôi. Tôi vuốt bộ râu rậm rạp của mình và hỏi nên làm thế nào với nó. Người đàn ông chẳng nói chẳng rằng cầm chiếc lược màu hổ phách, chải nhẹ lên đầu tôi. Tôi hỏi ông ta:

- Chà, cái đầu cũng vậy, làm sao nhỉ?

Ông ta cũng không trả lời, bắt đầu nhắp kéo xành xạch.

Tôi định nhìn bóng mình trong gương nên mở mắt, nào ngờ mỗi lần tiếng kéo vang lên, thấy mớ tóc đen bay lả tả, tự nhiên tôi hoảng sợ, vội nhắm mắt lại. Người đàn ông trắng lúc này nói:

- Ông anh thấy bán cá vàng phía trước chưa?

Tôi nói không thấy. Duy nhất lần đó, người đàn ông mở miệng, còn thì nhắp kéo liên tục. Thình lình có giọng nói to “nguy hiểm!” vang lên bên tai. Tôi mở bừng mắt thì thấy dưới ống tay áo người đàn ông trắng chiếc bánh xe đạp. Thấy cả càng xe của người phu xe. Người đàn ông trắng dùng hai tay xoay mặt tôi qua một bên. Tôi chẳng còn thấy chiếc xe và người phu đâu nữa. Tiếng kéo lại xạch xạch.

Người đàn ông trắng xoay mặt tôi qua ngang, bắt đầu cắt tóc ngang tai. Tóc không còn rơi trước mặt, tôi an tâm mở mắt. Có tiếng rao “bánh nếp hạt dẻ đây! Bánh nếp đê ê ê….”. Tiếng cái chày nhỏ giã vào cối bánh. Từ nhỏ tôi đã hay nhìn các gánh bánh nếp nên cũng muốn xem thử. Nhưng trong gương không hiện lên gì cả. Chỉ nghe tiếng giã nếp.

Tôi dùng hết nhãn lực của mình nhìn vào các góc gương. Ở quầy thu tiền, từ lúc nào đã có một người phụ nữ ở đó. Nàng có cặp lông mày đen dày, tóc búi kiểu ichogaeshi (11) mặc áo cổ may bằng vải đoạn màu đen trên chiếc áo mềm bằng gấm đứng đếm tiền. Hình như là tiền giấy mười yen. Nàng cúi gằm mặt chăm chú, lẩm nhẩm đếm. Cách đếm rõ là nhanh. Chẳng biết nàng sẽ đếm đến khi nào. Tiền chất trên đầu gối thật cao, cũng cả trăm tờ nhưng đếm bao nhiêu đi chăng nữa cũng chỉ trăm tờ.

Tôi nhìn mặt người phụ nữ và những tờ mười yen thì bên tai, tiếng người đàn ông mặc kimono trắng:

- Gội đầu thôi!

Vừa đúng tầm tôi đứng dậy thì hướng về quầy thu tiền. Ở đó chẳng có người phụ nữ lẫn tờ tiền nào, chẳng có gì cả.

Tôi ra phía trước trả tiền, thấy bên trái cửa ra vào có xếp năm cái thùng gỗ nhỏ. Bên trong có đầy cá vàng đỏ, cá vàng đốm, cá vàng mập, cá vàng ốm. Người bán cá ngồi sau đó, nhìn lũ cá trước mặt, mặt chảy dài. Như chẳng lưu tâm đến cuộc sống qua lại trước mắt. Tôi đứng nhìn người bán cá một lúc. Vậy mà người bán cá cũng không động đậy chút nào.


Đêm thứ chín

Cuộc sống trở nên ồn ã hẳn lên. Chiến tranh như sắp nổ ra. Lũ ngựa vô gia cư không có buổi trưa cũng chẳng có buổi tối, cứ giẫm quanh, chen chúc nhau, coi nhà như khu rừng tĩnh lặng.

Trong nhà có một người mẹ trẻ và đứa con lên ba. Người cha đã đi đâu đó. Người cha ra đi trong đêm tối không trăng, chân mang giày cỏ rơm, đầu trùm chiếc vải đen. Lúc đó, ngọn lửa trong chiếc chụp đèn bằng sáp ong trên tay người mẹ, trong đêm tối, chiếu dài cả cây cổ thụ trước hàng rào.

Người cha từ đó trở đi, không về nhà. Người mẹ ngày nào cũng hỏi đứa bé lên ba: “Cha đâu?”. Đứa con không nói gì. Một lúc sau nó mới trả lời “đằng kia”. Người mẹ lại hỏi: “Khi nào về?” thì đứa bé cũng chỉ trả lời “đằng kia” rồi cười. Người mẹ cũng cười, dạy đứa bé nói “bây giờ về” không biết bao nhiêu lần. Nhưng đứa bé chỉ nhớ mỗi “bây giờ”. Thỉnh thoảng, cũng có lúc khi bị hỏi “cha đâu?”, nó lại trả lời “bây giờ”.

Trời trở tối, bốn bề tĩnh lặng. Người mẹ thắt lại dây obi rồi đút đoản dao vào đó, buộc đứa bé trên lưng bằng sợi dây mỏng, lách ra cái cửa nhỏ. Người mẹ lúc nào cũng mang đôi dép rơm. Có lúc đứa bé vừa nghe tiếng dép rơm vừa ngủ quên trên lưng mẹ.

Ra khỏi nhà, thong thả xuống dốc về hướng Tây, có một cây ngân hạnh (icho) lớn. Lấy cây ngân hạnh này làm mốc, rẽ phải đi một đoạn, bên góc đường có một cổng đền bằng đá. Một bên là đồng ruộng, một bên là cỏ gấu mọc vào tận bên trong cổng. Băng qua cổng thì thấy một cây sồi sừng sững, u ám. Từ đó chừng hai mươi bước, con đường lát đá dẫn đến chân bậc tam cấp lên ngôi đền. Bên trên thùng lạc quyên đã xám xịt vì khói hương, một sợi dây chuông to được cột treo lủng lẳng. Buổi trưa, có thể thấy rõ bên cạnh chiếc chuông có tấm bảng tên đền. Kiểu chữ viết trên bảng ngồ ngộ. Ngoài ra còn có nhiều bảng khác. Đại khái là bảng tên những người quyên góp, thỉnh thoảng có vài tấm hình đao to.

Qua cổng đền, nơi cây sồi, lúc nào cũng có tiếng cú mèo kêu. Thỉnh thoảng có tiếng dép rơm lạo xạo. Đến trước đền, người mẹ rung chuông bằng sợi dây treo sẵn và vỗ tay, bái. Lúc này cú mèo không kêu nữa. Người mẹ thành tâm cầu nguyện cho chồng mình vô sự. Trong suy nghĩ của bà, hẳn việc chờ chồng của bà là đúng đạo lý, thể nào thần linh cũng nghe thấu tâm tư bà mà khiến ước nguyện thành sự thật.

Đứa bé vì tiếng chuông mà mở mắt dậy. Nhìn xung quanh, trời tối đen, nên trên lưng mẹ, nó cất tiếng khóc. Cũng có lúc nó giật mình khóc không vì gì cả. Nhưng dù sao đi nữa người mẹ cũng không đứng lâu.

Sau khi cầu nguyện cho chồng bên ngoài rồi, người mẹ nới dây như muốn thả con xuống, rồi kéo ra phía trước. Hai tay vừa ôm con vừa tiến vào trong đền, dỗ:

- Con ngoan, chờ chút thôi mà.

Nói rồi lại nới sợi dây mỏng dài ra, buộc lại đứa bé, bước vào chính điện. Sau đó bà quay ra con đường đá hai mươi buớc, cứ thế đi đi lại cũng dễ đến trăm lần.

Trong đêm tối, trong vòng dây buộc, đứa bé co người gọn dọc sợi dây. Được như vậy thì đêm đó người mẹ rất thoải mái. Nhưng nếu đứa trẻ khóc, người mẹ như không chịu nổi, tiếng bước chân nhanh hơn. Cũng có lúc không có cách nào khác, người mẹ lại lên chính điện, loay hoay tìm cách, hoặc có lúc phải lặp lại công việc bước một trăm bước đó.

Cứ như vậy, người mẹ với những đêm không ngủ, lo lắng cầu nguyện cho chồng mà vào thời xưa vẫn thường bị quân lang bạt sát hại.

Câu chuyện buồn này, tôi nghe mẹ kể trong giấc mơ.


Đêm thứ mười

Shotaro thất thểu trở về vào đêm thứ bảy kể từ khi bị người con gái bắt đi, đến báo với Ken là mình bị sốt và mắc bệnh.

Shotaro đẹp trai nhất vùng và là người lương thiện, chánh trực. Anh chỉ có một thú vui là cứ đến chiều tối, anh đội nón kiểu Panama, đi đến tiệm trái cây Mizugashi nhìn các cô gái qua lại. Cứ thế ngồi ngắm hoài không thôi. Ngoài chuyện này ra chẳng có gì đặc sắc hơn.

Nếu hôm nào có ít các cô gái qua lại thì anh ta ngắm tiệm Mizugashi. Trong tiệm có đủ thứ trái cây. Đào, táo, biwa, chuối được sắp xếp đẹp đẽ trong rổ, sẵn sàng thành một món quà cho khách mua về. Shotaro nhìn những rổ trái cây rồi khen đẹp và nói làm ăn thì chỉ có tiệm Mizugashi này mà thôi. Nói rồi xoay xoay cái mũ Panama chơi.

Cũng có lúc anh ta bình phẩm màu trái cây, khen màu này đẹp. Nhưng tuyệt nhiên, không bỏ tiền ra mua bao giờ. Không ăn. Chỉ ngắm nhìn màu sắc.

Một buổi chiều, có một người con gái dừng chân trước cửa tiệm. Nàng ăn bận rất đẹp, bộ kimono gây sự chú ý của Shotaro. Hơn thế nữa, Shotaro tỏ ra rất quan tâm đến khuôn mặt người con gái. Anh chộp lấy cái mũ quí, ra điệu chào hỏi lịch sự.

Người con gái chỉ vào giỏ trái cây to nhất nói: “Bán cho tôi giỏ này”. Shotaro lấy giỏ trái cây trao ngay. Người con gái đỡ lấy, ước lượng, “nặng quá nhỉ”.

Shotaro vốn là người rảnh rang lại rất tử tế với phụ nữ, liền nói: “Cậy tôi đem đến nhà giúp cô nhé”, rồi cùng người con gái rời khỏi tiệm. Từ đó không thấy anh trở về.

Khi người thân và bạn bè còn đang bàn tán chuyện, dù là Shotaro đi chăng nữa thì cũng đâu phải việc gì quan trọng, thì đêm thứ bảy, Shotaro thất thểu về đến. Đám đông người tập trung hỏi: “Anh Sho đã đi đâu vậy?”. Shotaro trả lời: “Tôi đón tàu đi núi đó mà”.

Theo lời Shotaro, đó là một chiếc tàu thật dài, khi xuống tàu, thảo nguyên hiện ra trước mặt. Một cánh đồng cỏ bao la, nhìn đâu cũng chỉ thấy cỏ xanh rờn. Lúc ấy, người con gái bảo Shotaro thử bay xuống dưới. Nhìn xuống, chỉ thấy vách đá mà không thấy đáy vực. Shotaro lấy mũ xuống, cúi chào. Người con gái lại nói: “Nếu không nhảy xuống, liệu anh có thích bị lợn liếm không?”. Shotaro vốn rất ghét lợn và quan phủ cánh tả. Rồi nghĩ không thể đánh đổi sinh mạng nên từ chối nhảy xuống. Nhưng khi một con lợn ục ịch tiến đến, Shotaro bí cách, lấy dây trầu cầm trên tay nãy giờ quất vào đầu con lợn. Nó khịt mũi, dễ dàng quay đầu rơi xuống vực.

Shotaro chưa kịp thở phào thì một con lợn khác dùng cái mũi to xông vào. Shotaro không ngừng quất vào nó, con lợn lại quay ngoắt và lăn xuống vực. Lại một con khác xuất hiện. Shotaro giật mình nhìn về phía trước. Từ thảo nguyên xanh, dài dằng dặc trước mắt, hàng vạn con lợn, không thể nào đếm xuể, xếp thành một hàng nhắm thẳng Shotaro đang tuyệt vọng, khịt khịt tiến đến. Shotaro hoảng sợ tột cùng. Trong bước đường cùng, Shotaro cứ cầm vũ khí đang có nhắm vào đầu từng con lợn nào tiến đến gần mình. Một điều lạ là sợi dây trầu vũ khí đó chạm vào mũi là con lợn quay ra, lăn xuống vực. Thử nhìn xuống vực, giờ đây lợn xếp hàng hàng lớp lớp. Shotaro trở nên sợ hãi khi nghĩ mình đã đuổi bấy nhiêu con lợn xuống vực. Đàn lợn vẫn cứ khịt khịt mũi tiến đến, đông vô kể như thể giẫm nát cỏ, mây đen phủ cả chân.

Shotaro quyết chí lấy lại lòng dũng cảm, chiến đấu với lũ lợn bảy ngày sáu đêm. Nhưng sức cùng lực kiệt, tay nhão ra, cuối cùng bị lợn liếm và đổ sụp bên bờ vực tuyệt vọng.

Ken nói chuyện của Shotaro đến đây thôi, vì vậy ngắm nhìn con gái là không tốt đâu nhé. Tôi cũng nghĩ điều đó tệ nhất. Ken xin Shotaro cái mũ Panama. Shotaro nói nó chẳng có ích gì. Có lẽ cái mũ thành vật sở hữu của Ken chăng?


An Nhiên dịch từ nguyên tác tiếng Nhật

--- ------ ------ ------ ------ ------ --------
Chú thích:

(1) Buson: một nhà thơ haiku kiêm hoạ sĩ nổi tiếng Nhật Bản.
(2) Tranh Phật giáo vẽ cảnh Bồ Tát Văn Thù (Monju) cưỡi sư tử, dắt theo tín đồ cưỡi mây, vượt biển.
(3) 1 sun bằng khoảng 3 cm.
(4) Imori: một loài sinh vật lưỡng cư, như tắc kè, rắn mối. Còn gọi là con sa giông.
(5) Niên hiệu của Nhật. Năm 1808.
(6) Chén uống trà trong nghệ thuật trà đạo của Nhật rất to, khoảng bằng một cái tô (bát lớn) dùng trong bữa ăn của người Việt.
(7) Fuji: một loại hoa dây leo màu hồng tím ở Nhật.
(8) Unkei: (không rõ năm sinh, năm mất), là một nhà sư Phật giáo tiêu biểu thời Kamakura của Nhật. Khoảng cuối thế kỷ XII, ông để lại nhiều danh tác trong công trình phục hưng chùa Todai (Todai ji - Đông Đại tự) ở Nara.
(9) Kỹ nữ Nhật Bản, được đào tạo từ nhỏ. Lấy nghệ thuật ca múa và trí tuệ làm trọng để tiếp khách.
(10) Viết tắt của Shimada mage - kiểu búi tóc tiêu biểu, phổ biến từ thời kỳ đầu Edo (1600- 1868) ở Nhật, dành cho các thiếu nữ chưa lập gia đình. Tóc trước và tóc sau được cột lại, búi thành búi to, dài.
(11) Kiểu tóc búi trước dài ra sau, lại chia thành 2 búi trái, phải. Rất thịnh hành vào cuối thời Edo.

         Mục lục Chế độ đọc
Chia sẻ truyện Mười đêm mộng - chương 2 tới bạn bè để mọi người cùng đọc nhé !
Bình luận truyện Mười đêm mộng
loadingĐang cập nhật phản hồi
Đăng nhập để bình luận !
Các bạn đang đọc truyện Mười đêm mộng - chương 2. Chúc các bạn đọc truyện vui vẻ !
lên đầu trang truyện
0.250808000565 sec